Một thỉnh cầu khẩn cấp gửi Đức Giáo Hoàng Francis để xin ngài hoặc là thay đổi đường hướng hoặc là rời khỏi Tòa Thánh Phêrô

Khởi đầu năm Lòng Thương Xót: Thư ngỏ gửi Đức Giáo Hoàng Francis.

Một thỉnh cầu khẩn cấp gửi Đức Giáo Hoàng Francis để xin ngài hoặc là thay đổi đường hướng hoặc là rời khỏi Tòa Thánh Phêrô.

Nhân dịp mừng kính Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ngày 08 tháng 12 năm 2015.

Sự thánh thiện của Cha:

Đức Giáo Hoàng Celestine V (r 1294.), thừa nhận sự bất lực của mình đối với văn phòng mà ngài đã rất bất ngờ được bầu làm vị ẩn sĩ Phê-rô của Morrone, và nhìn thấy thiệt hại trầm trọng mà lối quản trị tệ hại của mình đã gây ra, đã từ chức giáo hoàng sau khi trị vị chỉ mới được năm tháng. Ngài được phong thánh năm 1313 bởi Đức Giáo Hoàng Clement V. Giáo hoàng Boniface VIII, loại bỏ mọi nghi ngờ về tính hợp lệ của một hành động đầy phi thường như vậy của đức giáo hoàng, khẳng định vĩnh viễn (ad perpetuam rei memoriam) rằng “Đức Giáo Hoàng La Mã có thể tự do từ chức.”

Ngày càng tăng số người Công giáo, trong đó có các hồng y và giám mục, đang nhận ra rằng triều đại giáo hoàng của Cha – cũng là kết quả của một cuộc bầu cử bất ngờ – vả chăng đang gây tác hại nghiêm trọng đối với Giáo Hội. Ngày càng không thể phủ nhận rằng Cha thiếu một trong hai điều đó là khả năng hay ý chí để làm những gì mà vị tiền nhiệm của Cha một cách đúng đắn quan sát một vị giáo hoàng phải làm: “liên tục ràng buộc bản thân và Giáo Hội vào sự vâng nghe Lời Chúa khi phải đối mặt với mọi nỗ lực nhằm làm thích ứng với hoặc bóp méo Lời Chúa, và mọi hình thức của chủ nghĩa cơ hội. ”

Mà ngược lại, như được thể hiện trong các văn kiện đính kèm chứng tỏ hành vi ngoại giáo (annexed libellus) , Cha đã đưa ra rất nhiều dấu hiệu cho thấy một thái độ thù địch đáng báo động đối với giáo huấn truyền thống, kỷ luật và phong tục của Giáo Hội, và các tín hữu vốn cố gắng bảo vệ chúng, trong khi ấy lại đang bận tâm với vấn đề xã hội và chính trị vượt quá thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng. Do đó, kẻ thù của Giáo Hội liên tục thỏa thích trong triều đại giáo hoàng của Cha, đề cao Cha hơn hẳn mọi vị tiền nhiệm của Cha. Tình hình kinh khủng này không có có sự tương đồng trong lịch sử Giáo Hội.

Năm ngoái, khi nói về việc từ chức của Đức Giáo Hoàng Benedict, Cha lại tuyên bố rằng nếu Cha cảm thấy không có khả năng thực hiện chức vụ giáo hoàng “Tôi sẽ làm như vậy.” Vào ngày kỷ niệm đầu tiên ngày Đức Benedict từ chức, Cha đã kêu gọi các tín hữu “Hãy cùng tôi cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, một vị đầy lòng can đảm và khiêm nhường. ”

Không một chút lo lắng, dưới cái nhìn của Đấng sẽ phán xét tất cả chúng ta vào Ngày Cuối, chúng con trân trọng thỉnh cầu Cha hãy thay đổi đường hướng vì lợi ích của Giáo hội và vì phần rỗi của các linh hồn. Nếu không làm điều này thì tốt hơn là Cha hãy rời khỏi Tòa Thánh Phêrô hơn là để chủ tọa những gì đe dọa trở thành một thỏa hiệp thảm khốc về tính toàn vẹn của Giáo Hội?

Trong vấn đề này, chúng con mượn lời của Thánh Catherine thành Siena, Tiến Sĩ Hội Thánh, trong bức thư nổi tiếng của thánh nhân gửi cho Giáo hoàng Gregory XI, thúc giục ngài lèo lái Giáo Hội một cách đúng đắn trong suốt một trong những cuộc khủng hoảng lớn nhất của Giáo Hội: “Vì Thiên Chúa đã ban quyền cho Cha và Cha đã đón lấy, Cha nên sử dụng đức hạnh và năng quyền của mình: và nếu Cha không sẵn sàng sử dụng nó, thì tốt hơn là Cha nên khước từ những gì Cha đã nhận lấy … ”

Kiến nghị

Người tiền nhiệm của Cha – Đức Bênêđictô XVI, lần đầu tiên ngồi trên chiếc Ghế của Thánh Phêrô, đã nhắc nhở các tín hữu Công giáo rằng “Giáo Hoàng không phải là một vị vua tuyệt đối có những suy nghĩ và mong muốn là lề luật”, mà là “sứ vụ của Đức Giáo Hoàng là một đảm bảo vâng phục Đức Kitô và Lời của Người. “Theo đó, Đức Benedict nói, một vị giáo hoàng ” không được công bố ý tưởng của riêng mình, mà là liên tục ràng buộc bản thân và Giáo Hội để vâng phục Lời Chúa, khi đối mặt với mọi nỗ lực để sửa đổi hoặc làm suy yếu Lời Chúa, và mọi hình thức của chủ nghĩa cơ hội. ”

Đường hướng triều đại giáo hoàng của Cha cho đến nay đã buộc chúng con phải tuyên bố công khai rằng Cha đã không tôn trọng bản chất của Tòa Thánh Phêrô, lạm dụng nó theo cách mà người ta chưa từng chứng kiến Giáo Hội như vậy trước kia. Chúng con xin trình bày ở đây mối quan tâm chính về Chức Giáo Hoàng của Cha vốn đã làm dấy lên báo động ở tất cả các cấp của Giáo Hội và đã thúc đẩy bản kiến nghị này.

Đầu tiên, thay vì giáo huấn không đổi của Giáo Hội liên quan đến Lời Chúa, cha đã liên tục công bố những ý tưởng của riêng cha trong các bài giảng, các buổi họp báo, các nhận xét không được chuẩn bị, các cuộc phỏng vấn với các nhà báo, các bài phát biểu của các loại khác nhau, và các bài đọc khác biệt với Kinh Thánh. Những ý tưởng này, trải dài từ lo ngại đến ý kiến rỏ ràng trái ngược, được thể hiện ngon lành trong tuyên ngôn cá nhân của cha – Evangelii Gaudium. Tài liệu này chứa đựng một số lời tuyên bố đáng ngạc nhiên mà chưa từng có Đức Giáo Hoàng La Mã nào dám nói ra. Trong số này có giấc mơ của cha “muốn… chuyển đổi tất cả mọi thứ, để rồi các phong tục của Giáo Hội, các cách làm việc, thời gian và lịch trình, ngôn ngữ và cấu trúc có thể thích hợp được khơi theo dòng truyền giáo của thế giới ngày nay chứ không phải tự sinh tồn của Giáo Hội”. Thật không thể tin được rằng một Giáo Hoàng sẽ chờ đợi một sự phản đối không tồn tại giữa  vần đề tự bảo quản của Giáo Hội Công Giáo Thánh Thiện và sứ mệnh của Giáo hội trên thế giới.

Thứ hai, thay vì phải ràng buộc bản thân và Giáo Hội vào việc vâng phục Lòi Thiên Chúa, thì cha đã nhiều lần phản đối truyền thống tông đồ và truyền thống Giáo Hội, phản đối các tín hữu người bảo vệ các truyền thống ấy. Ở đây cũng vậy Evangelii Gaudium đúc kết dòng suy nghĩ của cha: “Vượt xa nỗi sợ hãi đi lạc lối, hy vọng của tôi là chúng ta sẽ được di chuyển bởi nỗi sợ hãi còn đọng lại đóng khung trong các quan liêu vốn mang lại cho chúng ta một cảm giác an toàn giả tạo, trong quy tắc mà làm chúng ta hà khắc xét đoán, trong thói quen vốn khiến chúng ta cảm thấy an toàn trong khi ở cửa chúng ta thì dân chúng đang chết đói và Chúa Giêsu không mệt mỏi nói với chúng ta: ‘Hãy mang cho họ một cái gì đó để ăn ‘ (Mk 6:37)”.

Linh hồn Công giáo lảo đảo vào những cảnh tượng về một Giáo Hoàng Rôma coi thường hiến pháp, giáo huấn và phong tục của Giáo Hội như chỉ là “quan liêu”, “quy tắc” và “thói quen” vốn cướp nơi dân chúng của nuôi dưỡng tinh thần, khiến họ chết đói tại cửa của Giáo Hội. Cha dám nói điều này liên quan đến chính Giáo Hội vốn được dựng nên và cải cách toàn bộ nền văn minh, nuôi dưỡng vô số các vị thánh, các dòng tu, linh mục và tu viện và ơn gọi của các tổ chức từ thiện cho phần rỗi các linh hồn và các công trình có một không hai về lòng thương xót có tính trọng yếu.

Đồng thời, Cha có nên thường xuyên chế giễu các tín hữu đang bảo vệ truyền thống Giáo Hội mà một nhà quan sát đã biên soạn một “Quyển Sách nhỏ về những xúc phạm” trong đó ghi lại nhiều ví dụ về lời công kích chưa từng có này bởi một vị Giáo hoàng chống lại các vấn đề của riêng mình. Trong số các biệt danh Cha đã ném vào người Công giáo quan sát với sự buông xã bỏ mặt như là những từ: “trào lưu”, “Pharisêu”, những người “Pelagians”, “những người cho là tôn giáo mình trên hết”, “những kẻ chỉ trích”, “những người thỏa mãn nỗi nhớ”, “Kitô hữu hời hợt”, “bè lũ những người được chọn”, “kẻ khoe khoang” ,” những người chỉ trích ác ý về đạo đức “, ” người thích thống nhất”, ” tự hào, tự túc “,” quý tộc trí tuệ “,” những con dơi Kitô hữu thích bóng tối hơn ánh sáng của sự hiện diện của Chúa “, vv.

Tuy nhiên, không một lời phàn nàn khó chịu nào Cha thốt ra liên quan đến kẻ thù công khai của giáo lý đức tin hoặc những người tà dâm đang tàn phá hàng giáo phẩm Công Giáo. Ngược lại, Cha tuyên bố “Tôi là ai mà phán xét?”. Tôn trọng “người đồng tính” giữa những giáo sĩ, và đặc biệt là các giáo sĩ đồng tính nổi tiếng thì Cha đã cất nhắc lên hàng đầu của những người tỏ ra một thân mật đáng ghét với người của Cha. Cha đã cho phép khán giả công bố rộng rãi những sự tà dâm, bao gồm cả người chuyển giới và đồng tính luyến ái, sắp xếp những cuộc gặp gỡ cá nhân qua điện thoại. Cha đã phục hồi và thậm chí khen thưởng những người quảng bá của đồng tính luyến ái, và giám mục che đậy những tội ác tình dục của các linh mục đồng tính bằng những cuộc hẹn có uy tín với các nhà thần học giải phóng vốn từng bị hai vị tiền nhiệm mới nhất của Cha buộc phải im lặng và bị đình chỉ.

Evangelii Gaudium kịp thời tóm tắt sự khinh thường công khai – vốn không có tiền lệ trong lịch sử của các triều đại giáo hoàng – với điều mà Cha xem những người bảo vệ tính chính trực về giáo lý và phụng vụ. Cha nhạo báng là “một mối bận tâm phô trương về phụng vụ, về giáo lý và uy tín của Giáo Hội” và vội vàng kết tội người Công giáo có đầu óc truyền thống là người “không có bất kỳ mối quan tâm nào mà Tin Mừng có một tác động thực sự trên người trung thành của Chúa và các nhu cầu cụ thể của thời điểm hiện tại”, tàn nhẫn và bất công chế nhạo họ là kẻ muốn làm suy yếu Giáo Hội thành ” một mãnh tàng tích hoặc một cái gì đó vốn là tài sản của một vài lựa chọn. ”

Một khoảnh khắc bộc lộ sâu sắc về tâm lý khinh bỉ của Cha trong vấn đề này là sự sỉ nhục một cậu bé giúp lễ của cha, phát sóng ra thế giới và được lưu lại trên Internet. Khi cậu bé đứng trong tư thế cầu nguyện, chắp tay, ở lối vào hang động Vatican, mà Cha đã ghé thăm, Cha đã kéo tay cậu bé ra, chế giễu bé với những lời: “Có phải bàn tay của con bị buộc lại với nhau không? À, có vẻ như chúng đang bị mắc kẹt!”. Đối với lòng tin của mình, cậu bé khép tay lại ngay lập tức, phục hồi các cách ứng xử phù hợp với phẩm giá của dịp này và phù hợp với tiếng nói cấu thành lương tri. Nhưng người ta tự hỏi những gì tác động đến sự sỉ nhục công khai này, giờ đây vĩnh viễn có thể truy cập trên toàn thế giới, sẽ có đối với đời sống tinh thần của một thiếu niên đầy ấn tượng.

Có lẽ điều gây tổn hại nhất của những lời lăng mạ của cha về các tín hữu, Evangelii Gaudium tố cáo Công giáo truyền thống vì những gì Cha nghĩ là “một người Công giáo cổ hủ chỉ trung thành với Công giáo truyền thống” (a self-absorbed promethean neopelagianism). Phỏng đoán khuynh hướng nội tại của họ, cha tuyên bố rằng những người Công giáo này “cảm thấy tốt hơn những người khác vì họ quan sát những quy tắc nhất định hoặc vẫn ngoan cố trung thành với một phong cách Công giáo nói riêng từ quá khứ “- như thể tôn giáo thánh thiện của chúng ta liên quan đến “phong cách” vốn trở nên lạc hậu như thời trang trong quần áo. Cha thậm chí còn cố gắng mỉa mai “một tính đúng đắn phải có của giáo huấn hay kỷ luật” là “niềm tin tự mãn và độc đoán, theo đó mà thay vì rao giảng Tin Mừng, thì người ta lại phân tích và phân loại những người khác …”

Vì lợi ích của sự thật và công lý, thưa Đức Giáo Hoàng, chúng con phải nói rằng có vẻ như chính cha đã dành rất nhiều thời gian phân tích, phân loại và thực sự xét đoán người khác – đang ngày càng hoảng hốt và bối rối về các vấn đề của Cha, những người chưa từng nhìn thấy hành vi đó từ nơi một Đức Giáo Hoàng. Và hành vi này cho thấy không có dấu hiệu dừng lại. Gần đây, tại một hội nghị về đào tạo linh mục, cha đã nhận xét để gây tiếng cười từ khán giả, rằng cha đang “sợ hãi các linh mục cứng nhắc … Tôi tránh xa họ. Họ biết cắn!”. Mục đích lời lẽ chế nhạo như vậy phục vụ thuật hùng biện gì ngoài việc làm nhục và cách ly những linh mục đó, những người vẫn còn can đảm bảo vệ giáo lý không được lòng dân của Giáo Hội vốn không có sự thỏa hiệp trong một thế giới có cuộc chiến chống lại Thiên Chúa và lề luật của Người? Không có gì ngạc nhiên khi thông tin đại chúng mưa đá triều đại giáo hoàng của Cha!

Nhưng, nhiều hơn lời nói, thưa Đức Thánh Cha, cha đã chỉ đạo cuộc đàn áp thẳng thừng các phẩm trật tôn giáo có ý định khôi phục chính thống, khổ hạnh hiếu thuận, có đời sống nội tâm và truyền thống phụng vụ giữa những gì người tiền nhiệm của chính Cha mô tả như là những”thiên tai” và “đau khổ” mà Giáo Hội đã phải chịu đựng dưới danh nghĩa Vatican II, bao gồm ” đóng cửa chủng viện, đóng cửa tu viện, tầm thường hóa phụng vụ …” Trên sắc lệnh cụ thể của Cha, sự hưng thịnh anh em dòng Phanxicô của Đức Mẹ Vô Nhiễm đã bị phá hủy vì những gì mà ủy viên tông đồ của Cha (người sau đó đã chết đột quỵ) gọi là một “khuynh hướng chắc chắn theo truyền thống”. Các Sơ được phê chuẩn thuộc dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm tương tự cũng đã bị đặt dưới một ủy viên hội tông đồ bởi vì cái được gọi là “những lệch lạc” bao gồm một tổ chức “tiền Công đồng” có dự tính –  nghĩa là phụng vụ truyền thống và cuộc sống các tu viện truyền thống, như thể những điều thiêng liêng này là những truyền nhiễm phải bị xóa khỏi Giáo Hội như một số bệnh. Đây là những hành động của một nhà độc tài bị thúc đẩy bởi một ý thức hệ, không phải là một người giám hộ với tính cách người cha di sản thiêng liêng của Giáo Hội.

Tuy nhiên, sau một năm dài tiến trình điều tra và xử lý kỷ luật được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI khởi xướng, dưới sự giám sát của cha Hội Lãnh đạo các Dòng Nữ đã từng được minh oan và được tha cho bất kỳ hình thức kỷ luật nào mặc cho nó ủng hộ phá thai, an tử và “hôn nhân đồng tính” và xúc tiến khét tiếng của hội về những gì Đức Hồng Y Müller, Tổng Trưởng của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, được mô tả như là “lỗi cơ bản liên quan đến sự toàn năng của Thiên Chúa, mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Kitô, sự thật về Tội Nguyên tổ, sự cần thiết của ơn cứu rỗi và tính chất chung cuộc của hành động cứu độ của Chúa Kitô trong mầu nhiệm Vượt Qua “.

Thứ ba, phù hợp với lời dèm pha của cha về chương trình giáo lý truyền thống và kỷ luật của Giáo Hội và những người bảo vệ chúng, cha đã chủ trì và kiểm soát một “Thượng Hội Đồng về gia đình” để tiến tới một nỗ lực lâu dài nhằm làm suy yếu hoặc chỉnh sửa việc giảng dạy không thể sai lầm của Giáo Hội về hôn nhân, sinh sản và tình dục để phù hợp với tinh thần nổi loạn của thời đại và sự vô đạo đức vốn đã nuôi dưỡng suốt nền văn minh hậu Kitô giáo của chúng ta.

Lấy danh nghĩa “thương xót”, các giám mục cấp tiến đang thống trị đoàn thể các cố vấn, bao gồm cả Đức Hồng Y Kasper tai tiếng – nhân vật có quan điểm mà Cha đã từng đang nâng đỡ ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của Cha – giờ đây công bố một sự phân ly sai lầm giữa giáo lý và thực hành mục vụ có bản chất liên quan, như thể Giáo Hội có thể cấm hành vi vô đạo đức về nguyên tắc trong khi lại dễ dãi nó trong thực tế. Là một trong những hồng y nổi tiếng đã đặt ra nó, điều này “là một hình thức của dị giáo, một bệnh lý tâm thần phân liệt nguy hiểm”. Tuy nhiên, nó đã trở thành một chủ đề của triều đại giáo hoàng của Cha, như Cha không ngừng kêu gọi “lòng thương xót” chống lại luật luân lý của Giáo Hội, luật mà Cha đang hạ thấp thành ” quy tắc có đầu óc nhỏ nhen”,” rào chắn “,” cánh cửa đóng kín” và “nhiều quỉ kế”.

Cha đã đích thân bổ nhiệm những vị cấp tiến vào Ban thư ký và ủy ban dự thảo của Thượng Hội Đồng, và với 45 vị cấp tiến được thêm vào thì Cha đã có thêm các thành viên có quyền biểu quyết, trong đó có Đức Hồng Y Kasper, đã kết hợp để tấn công bất tính khả phân ly của hôn nhân bằng cách ủng hộ “trường hợp cụ thể” nhập vào nhóm người ly dị và “tái hôn” được rước lễ. Điều này cũng có nghĩa là lật đổ khuôn phép bí tích 2 ngàn năm của Giáo Hội, bắt nguồn từ những lời của chính Chúa chúng ta: “Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình…. (Lc 16:18)”. Đó là kỷ luật được tái khẳng định bởi Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI và Đức Gioan Phaolô II trong khi đối mặt với những thách thức do những người bất đồng chính kiến với giáo lý Công giáo –  Đức Hồng Y Kasper là người đứng đầu trong số đó. Hiển nhiên rằng Cha muốn từ bỏ kỷ luật đó, như Cha đã làm khi Cha còn là Tổng Giám mục Buenos Aires và ngay cả khi làm Giáo Hoàng, Cha đích thân gọi điện thoại cho một người phụ nữ ở Argentina, đã kết hôn theo luật dân sự với một người đàn ông đã ly hôn, để nói với cô ấy rằng cô ta có thể rước lễ bất chấp những gì vị linh mục “cứng nhắc” của giáo xứ cô  đã nói điều ngược lại.

Tại phiên họp đầu tiên của Thượng Hội Đồng vào năm 2014, đích thân Cha phê duyệt và ra lệnh công bố cho thế giới, trước khi các Nghị Phụ trông thấy nó, một “báo cáo giữa nhiệm kỳ” của Thượng Hội Đồng vốn không bao giờ được họ chấp thuận và thực tế đó là một ngụy tạo, rõ ràng bằng văn bản trước thời hạn, mà đó thậm chí ngoài mong đợi đã không đại diện cho sự đồng thuận thực tế của họ. Tài liệu nhục nhã này kêu gọi cho một “trường hợp cụ thể” từ bỏ kỷ luật của Giáo Hội tôn trọng ly dị và “tái hôn” và  cho việc “đánh giá” sự “định hướng” đồng tính. Một vị giám mục can đảm gọi nó là “một dấu đen đã làm ô nhơ danh dự của Tòa Thánh”. Tuy nhiên, sau khi đa số Thượng Hội Đồng thẳng thừng bác bỏ nó, Cha lên án “cái gọi là … truyền thống “là ” mong muốn [tự] đóng mình trong những gì đã được ghi chép … và không cho phép mình được Thiên Chúa thức tỉnh, bởi vì Ngài là Thiên Chúa của những bất ngờ … ” Và sau đó Cha ra lệnh cho các giám mục trên thế giới lưu hành cũng một tài liệu đó, cùng với ba đoạn văn trong báo cáo cuối cùng vốn không nhận được đa số đồng thuận cần thiết, nhưng dù sao đi nữa điều mà Cha đã ra lệnh được bao gồm, đã “xé nát cuốn sách quy tắc ” của một Thượng Hội Đồng vốn đã bị “gian lận” để đạt được một kết quả từ sự đặt để, nhưng bởi ân sủng của Thiên Chúa đã không xảy ra như vậy.

Tại kỳ họp thứ hai của Thượng Hội Đồng vào năm 2015, Cha yêu cầu tất cả các cuộc thảo luận phải được dựa trên một Instrumentum Laboris quá trái với ý kiến đến nỗi một liên minh quốc tế các giáo sĩ và giáo dân đã cảnh báo rằng nó “đe dọa toàn bộ cấu trúc của giáo huấn Công giáo về hôn nhân, gia đình và tình dục của con người …”.  Khi tài liệu đó tương tự đã bị từ chối bởi đa số Thượng Hội Đồng và được thay thế vào phút chót bởi một tài liệu có tính thỏa hiệp – vốn không ít tạo khe hở cho việc lật đổ kỷ luật bí tích của Giáo Hội – Cha đã lên án “tấm lòng khép kín vốn thường xuyên che giấu ngay cả phía giáo huấn hoặc ý định tốt của Giáo Hội, để ngồi vào chiếc ghế của Môi-Sen và thẩm phán … các trường hợp khó khăn”. Nghĩa là, Cha lên án các Nghị Phụ đã từng bảo vệ kỷ luật bí tích không hề thay đổi của Giáo Hội.

Trong quyết tâm rõ ràng của Cha nhằm giúp đỡ những người ly dị và “tái hôn” theo luật dân sự, người mà Cha không giải thích được đặc trưng như “người nghèo”, ngay trước Thượng Hội Đồng năm 2015 Cha đã bí mật nghĩ ra, mà không tham khảo bất kỳ Thánh Bộ Vatican có thẩm quyền nào, một qui trình bất ngờ và quyết liệt “hợp lý hóa” việc hủy hôn. Một nhà giáo luật nổi tiếng thế giới, phản ánh báo động rộng khắp về “cải cách” ngoài dự tính này, mô tả nó như thể ” đang cung cấp một con đường vốn trông giống như phiên bản Công Giáo không có lỗi ly hôn”. Cha tự mình một cách tự do thừa nhận rằng “nó đã không thoát khỏi tay ta thì làm sao một xét đoán được rút ngắn có thể gây nguy hại nguyên tắc bất khả phân ly của hôn nhân … ”

Thứ tư, phù hợp với gợi ý kinh ngạc của Cha – kịp thời được ca ngợi bởi các thông tin đại chúng –  rằng Giáo Hội đã bị “ám ảnh” với chuyện “phá thai, hôn nhân đồng tính và việc sử dụng các biện pháp tránh thai”, bởi sự thừa nhận của chính cha, cha “đã không nói nhiều về những điều này, và tôi đã bị khiển trách vì điều đó”. Tuy nhiên, những tệ nạn nghiêm trọng này đang đe dọa sự tồn vong của nền văn minh chúng ta ở giữa những gì Đức Gioan Phaolô II từng gọi là một ” văn hóa sự chết ” và “cuộc bội giáo thầm lặng”. Trong khi cất cao giọng liên quan đến nhiều vấn đề chính trị, Cha lại hoàn toàn im lặng khi một lần Công giáo Ireland hợp pháp hóa “hôn nhân đồng tính” bằng cuộc trưng cầu dân ý và Tòa án Tối cao Hoa Kỳ áp đặt điều ghê tởm này trên toàn năm mươi tiểu bang.

Mặt khác, khi thế giới phương Tây rơi vào một vực thẳm đồi bại và cuồng tín Hồi giáo đang tàn sát Kitô hữu khắp Trung Đông, châu Phi và ở trung tâm của châu Âu, Cha lại đang bận tâm tới “biến đổi khí hậu”. Cuốn sách thông điệp dài ngoằn của cha, Laudato si ‘, thông điệp duy nhất mà Cha đã tạo ra, thừa nhận sự tồn tại của một “cuộc khủng hoảng sinh thái” và chấp nhận cưu mang những tuyên bố đầy tranh cải, được thúc đẩy một cách đầy ý thức về “khoa học biến đổi khí hậu”, điều mà một Đức Giáo Hoàng hoàn toàn không có thẩm quyền để đánh giá, ít nhiều bày tỏ các sự kiện không thể chối cãi cho các tín hữu.

Thông điệp tương tự than thở “sự nóng lên toàn cầu”, sử dụng quá mức điều hòa không khí, sự mất mát những đầm lầy ngập mặn, mối đe dọa đối với sinh vật phù du và sâu, và sự tuyệt chủng của nhiều loại cây cối và động vật – tố cáo điều này như là một hành vi phạm tội với Chúa – thậm chí trước cả việc đề cập đến chuyện phá thai (trong khi hoàn toàn không đề cập đến việc thực hành vô biện pháp tránh thai trái tự nhiên). Như để phá thai, thông điệp nói đó chỉ là một thất bại “để bảo vệ một phôi thai con người” trong khi thực tế phá thai là tàn bạo giết hàng loạt con người vô tội, xé từng chi thể ra khỏi nhau ngay trong tử cung hoặc bị đâm chết bằng kéo phẫu thuật ngay vào lúc sinh.

Chẳng ngạc nhiên gì, các cường quốc trên thế giới đã hoan nghênh Laudato si khắp chốn như là một phần của “cuộc cách mạng Francis”, điều mà phương tiện truyền thông, bao gồm cả các báo chí tiến bộ “Công giáo”, đã tán tụng suốt triều đại giáo hoàng của Cha.

Thứ năm, Cha đã liên tục bác bỏ tất cả những khác biệt về giáo lý với người Tin Lành là không đáng kể và đã nhiều lần hoàn toàn sai lầm tuyên bố, rằng “hết thảy những ai đã được rửa tội đều là các thành phần của cùng Thân thể Chúa Kitô, Giáo Hội của Người”. Ở đây cũng vậy, Cha bỏ qua lời dạy của Đức Gioan Phaolô II, Đức Benedict XVI, và mọi Giáo hoàng trước các ngài, trong đó có Đức Piô XI, người đã dạy khá trái ngược liên quan đến điều kiện của người Tin Lành: “Vì chưng thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, theo cách thức giống như thân xác của Người, là một thân thể, có tính hiệp thông và được nối kết một cách thích hợp với nhau, thật là ngu ngốc và không đúng chỗ khi nói rằng Nhiệm thể được tạo thành từ các thành phần vốn bị tách rời và rải rác ở bên ngoài: do đó ai không hợp nhất với cơ thể thì không phải thành viên của nó, kẻ đó cũng không có trong sự hiệp thông với Chúa Kitô là đầu của cơ thể ấy”.

Về vấn đề này, Cha dường như chẳng bao giờ chú ý về chuyện vô đạo đức ngày càng xấu đi và lạc thuyết của các giáo phái Tin Lành cùng tham gia vào “đối thoại đại kết” bất tận, vô nghĩa với Vatican. Sau năm mươi năm “đối thoại”, các giáo phái này bỏ qua ly dị, ngừa thai, phá thai, đồng tính luyến ái và “hôn nhân đồng tính,” dường như có ý tấn phong phụ nữ và người theo đuổi đồng tính làm “linh mục” và “giám mục”, và tiếp tục kiên quyết từ chối những giáo điều căn bản của tôn giáo chân thật duy nhất được Chúa Kitô tỏ lộ để cứu độ thế giới.

Sự thật gì khiến chúng ta tự do? (Gioan 8:32) Chứng cớ gì của vô số các vị thánh và các vị tử đạo đã tiêu hao thể chất các ngài và từ bỏ mạng sống mình để bảo vệ và truyền lại đức tin Công giáo chống lại các lầm lỗi đa dạng và sự phá hủy xã hội được sinh ra bởi sự phản loạn của Tin Lành, mà hậu quả sau cùng đang diễn ra trước mắt của Cha?

Thứ sáu, trong những ngày gần đây, tuyên bố công khai của Cha dường như đã trở nên ngày càng bất cẩn và bị rối loạn, gây tai tiếng và lo âu hơn giữa các tín hữu:

Vào ngày 15 tháng 11, trong ngày Chúa Nhật cha tham dự một buổi cầu nguyện với người Tinh Lành, cha nói rằng giáo lý Công giáo và Tinh Lành về Chúa Kitô là “giống nhau”, chỉ đơn thuần là một vấn đề về “ngôn ngữ Công Giáo” so với “ngôn ngữ Lutheran”. Cha đã bày tỏ tín điều được xác định và thực tế của biến đổi bản thể chỉ là “những diễn giải và giải thích”, tuyên bố rằng “cuộc sống thì lớn lao hơn giải thích và diễn giải” – Như thể “cuộc sống” đã “lớn” hơn so với sự hiện diện thật của Thiên Chúa Nhập Thể trong Thánh Thể, mà người Tin Lành từ chối.

Cũng trong dịp này cha đề nghị rằng người Tin Lành có thể rước lễ hay không là chuyện các nhà thần học phải xác định, trong khi Giáo Hội đã hoàn toàn xác định rằng điều này là không thể nếu như không có sự cải đạo và tuyên xưng đức tin giống như người Công giáo. Nêu rõ rằng vấn đề đã vượt ra ngoài “thẩm quyền” của cha – nhưng đó chính là thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng phải đề cao giáo huấn của Giáo Hội trong vấn đề này – Cha đề nghị rằng một người Tinh Lành đã kết hôn với một người Công giáo có thể rước lễ sau khi “nói chuyện với Chúa”, nhưng mà cha “không dám nói thêm gì nữa”. Nhưng cha đã nói quá nhiều bằng cách công khai đề cập một vấn đề có tầm nghiêm trọng cho sự cứu rỗi đối với tín ngưỡng riêng tư dễ lầm lỗi của một người: “Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. (1 Côrintô. 11:29)”.

Vào ngày 21 tháng 11, cha đã tuyên bố một hội nghị về các nhà giáo dục Công giáo trên toàn thế giới: “Đừng bao giờ cố gắng hoán cải ai đó bằng đức tin tôn giáo của mình trong trường học. Giáo dục Kitô giáo giúp các thanh niên trong thực tế hoàn chỉnh giá trị con người và một trong những giá trị này là siêu việt”. Ngược lại, giáo dục Công giáo là cả một khắc sâu trong các giá trị thiêng liêng: Tin Mừng và những gì nó đòi hỏi nơi người Công giáo, thực sự là cả thế giới, không chỉ đơn thuần là giá trị con người hay mơ hồ “siêu việt” tước mất đối tượng thích hợp của nó, đó là Thiên Chúa, Đấng đã mạc khải chính Người trong con người của Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể.

Trong suốt chuyến đi của Cha đến châu Phi, ngày 25-30 tháng 11, Cha phát biểu rằng thế giới đang ở “ngưỡng cửa của sự tự sát” vì “thay đổi khí hậu”. Như Cha có trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, cha đã không giải quyết mối đe dọa thực sự của nền văn minh tự sát trong thời đại chúng ta, được nhận xét bởi người tiền nhiệm tuyệt vời của cha, Đức Giáo Hoàng Piô XII đáng kính: rằng “gần như toàn thể nhân loại ngày nay cho phép bản thân bị lèo lái vào hai phe đối lập, Chúa Kitô hay chống lại Chúa Kitô. Thời nay loài người được tham gia trong một cuộc siêu khủng hoảng, vốn sẽ phát ra nơi nó sự cứu rỗi của Chúa Kitô, hoặc sự phá hủy nghiêm trọng”. Bằng cách liên tục hướng sự chú ý của toàn thể Giáo hội một “khủng hoảng sinh thái” thế gian, cha khiến các tín hữu mất cảnh giác cuộc khủng hoảng Kitô giáo vốn đe dọa hạnh phúc đời đời của vô số linh hồn trong thời đại chúng ta.

Trong buổi họp báo trên chuyến bay trở lại Rome từ châu Phi, Cha còn lên án người Công giáo “cực đoan” một lần nữa, chế giễu những xác tín tôn giáo tuyệt đối của các thành viên chính thống của đàn chiên mình, dựa trên những lời mạc khải của Thiên Chúa và việc giảng dạy không thể sai lầm của Huấn Quyền về đức tin và luân lý:

Cực đoan là một bệnh vốn có trong mọi tôn giáo …. Chúng tôi có một số người Công giáo và không phải là một số, mà là nhiều, eh? – Ai tin sự thật tuyệt đối (che si credonono con la verita assoluta) và tiếp tục vấy bẩn người khác bằng lời vu khống, với điều sai lạc, và họ làm điều ác …. Cực đoan tôn giáo không phải là tôn giáo, bởi vì nó thiếu Thiên Chúa và nó là ngẫu tượng, giống như tôn thờ ngẫu tượng tiền bạc.

Đã từng lên án “nhiều” thành viên trong đoàn chiên của chính Cha như thờ thần tượng vô thần, sau này Cha đề nghị một sự tương đương về đạo đức giữa các Kitô hữu và tín đồ Hồi giáo đang giết mổ, tra tấn, cưỡng hiếp, nô dịch và trục xuất Kitô hữu trên toàn thế giới: “Cha không thể quét sạch một tôn giáo chỉ vì có một vài hoặc một số nhóm cực đoan tại một thời điểm trong lịch sử …. Hãy suy nghĩ về tất cả các cuộc chiến tranh mà Kitô hữu chúng ta đã tiến hành. Nó chẳng phải là người Hồi giáo phải chịu trách nhiệm cho sự cướp phá của Rome”.

Tuy nhiên, một lần nữa Cha xấu hổ về Giáo hội và bản thân mình với một nhận xét thiếu cân nhắc hoàn toàn không thích hợp với Đức Giáo Hoàng La mã. Ghi chép lịch sử đòi hỏi sự điều chỉnh các sai lầm của Cha:

Trước hết, những người Hồi giáo đã cướp phá Rome vào năm 846, cướp bóc đại giáo đường cũ của Thánh Phêrô và khiến Giáo hoàng Leo IV phải xây dựng “bức tường thành Leonine” “để bảo vệ Tòa Phêrô  khỏi một cuộc thánh chiến Hồi giáo.”

Thứ hai, nếu Cha đang đề cập đến việc cướp phá Rome vào năm 1527 bởi quân đội của Hoàng đế Charles V, điều này không có gì để làm với “cực đoan” tôn giáo mà là liên quan đến trả thù thuần túy chính trị chống lại Clement VII, một vị giáo hoàng yếu kém và do dự, người đã thiều thận trọng giả mạo một liên minh với vua của nước Pháp (Francis I) vốn đang có chiến tranh với Charles. Trong thực tế, quân đội của Hoàng đế bao gồm lính đánh thuê của Đức, hầu hết là người phái Tinh Lành, và chính họ là người chủ yếu chịu trách nhiệm về việc cướp phá Thành Thánh và bạo lực được thực hiện đối với người dân Công giáo của Thành Thánh.

Thứ ba, trong cùng một thời đại, tất nhiên, những kẻ Hồi giáo cướp bóc – người đã thực sự “cực đoan” bạo lực- mở rộng đế chế Ottoman bằng cuộc chinh phục vùng đất Kitô hữu cho đến khi chiến thắng vang dội và kỳ diệu hạm đội Hồi giáo tại trận Lepanto năm 1571, trong đó ngăn chặn một cuộc chinh phục của người Hồi giáo khắp châu Âu và có lẽ một cuộc cướp phá Rome khác của người Hồi giáo.

Gây tai tiếng vẫn còn nhiều, trong câu trả lời cho một câu hỏi liên quan đến chuyện nên chăng Giáo Hội phải “thay đổi vị trí của nó” về sự vô đạo đức trong biện pháp tránh thai để cho phép sử dụng bao cao su như một phương pháp hạn chế lây nhiễm HIV mới, cha gọi thực hành xấu xa này là “một trong các phương pháp”, do đó giới thiệu để hợp thức hóa nó, trong khi gợi ý rằng nó thể hiện một vấn đề đạo đức đối với Giáo Hội, thậm chí so sánh nó với Chúa chúng ta chữa lành vào ngày Sa-bát:

Câu hỏi có vẻ quá nhỏ với tôi, dường như cũng là một phần câu hỏi cho tôi. Vâng, đó là một trong những phương pháp. Và luân lý của Giáo Hội, tìm kiếm bản thân, tôi nghĩ rằng, vào thời điểm này trước một sự bối rối. Vì vậy, là điều răn thứ năm hoặc thứ sáu? Bảo vệ cuộc sống [bằng bao cao su!], Hoặc quan hệ tình dục mở cửa cho cuộc sống? Nhưng đây không phải là vấn đề. Vấn đề thì lớn hơn.

Câu hỏi này làm cho tôi nghĩ về một trong những người đã từng hỏi Chúa Giêsu: “Hãy nói cho tôi, thưa thầy, có hợp pháp để chữa lành vào ngày Sa-bát không?” Buộc phải chữa lành …. Nhưng chuyện suy dinh dưỡng, sự phát triển của con người, lao động nô lệ, thiếu nước uống sạch, đây là những vấn đề. Đừng nói về việc liệu người ta có thể sử dụng loại cao dán này [cerotto] hay rằng đối với một vết thương nhỏ, vết thương lớn là bất công xã hội, bất công môi trường ….

Như vậy, Cha đã giới thiệu để chấp nhận rằng có chỗ cho việc xem xét “phương pháp” này, mặc dù cha xem nó như là một vấn đề khá tầm thường (một cao dán, Band-Aid, cerotto) mặc dù nó tạo điều kiện thông dâm và một nền văn hóa hoàn toàn đồi bại tình dục. Sau đó Cha hạ thấp luật luân lý thành chuyện liên quan đến công bằng xã hội và môi trường! Và như vậy, một lần nữa, Giáo Hội đang bị thương bởi vụ bê bối và sự nhầm lẫn bởi vì thói quen bất cẩn của Cha, nhận xét tự phát với báo chí về vấn đề nặng về luân lý và thần học mà một giáo hoàng nên nói hoặc viết với sự thận trọng tối đa và có thảo luận, khấn nguyện sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Cuối cùng, vừa mới xuất hiện trên trang web của Vatican một cuộc phỏng vấn về Sự thánh thiện của Cha bằng tin tức hàng tuần mà trong đó Cha ám chỉ một cách thích hợp (một lần nữa) cho khái niệm sai lầm của Đức Hồng Y Kasper về “lòng thương xót” và tiết lộ rằng Cha có ý định tiến hành một “cuộc cách mạng êm dịu” – ám chỉ đến tiêu đề cuốn sách của Đức Hồng Y Kasper đang tán dương Cha: Cách mạng êm dịu và tình yêu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Cha tuyên bố rằng “cuộc cách mạng êm dịu” sẽ diễn ra trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, vốn sẽ liên quan đến “quá nhiều cử chỉ”, bao gồm “một cử chỉ khác” vào “ngày thứ sáu hàng tháng.”

Động cơ Cha nêu ra cho “cuộc cách mạng êm dịu” là, theo Cha, “Giáo Hội đôi khi tự mình theo một đường lối cứng rắn, Giáo hội rơi vào sự cám dỗ đi theo một đường lối cứng rắn, vào sự cám dỗ chỉ để nhấn mạnh các quy tắc đạo đức, nhiều người bị loại trừ”. Khẳng định lời đề nghị trong cuộc phỏng vấn của cha rằng Giáo Hội phải “khám phá” một ” Thiên Chúa đã hành động và có lòng từ bi đối với nhân loại “, cha trả lời:”. Để khám phá ra nó sẽ khiến chúng ta phải có một lòng khoan dung hơn, kiên nhẫn hơn, thái độ dịu dàng hơn” – như thể Giáo Hội thiếu kiên nhẫn và lòng từ bi đối với những kẻ tội lỗi trước khi có cuộc bầu cử Cha.

Những khẳng định đáng kinh ngạc này nếu không phải là một mối đe dọa hoàn toàn chưa từng có của một Giáo Hoàng Rôma nhằm bãi bỏ “quy tắc đạo đức” – nghĩa là giáo huấn của Huấn Quyền không thể sai lầm – dưới danh nghĩa một lòng thương xót giả trá, rõ ràng liên quan đến việc ly dị và “tái hôn”và những vần đề khác Cha cho là “bị loại trừ” theo một số cách thức? Chúng con có thể làm gì cho một Giáo Hoàng, người đang tuyên bố rằng Giáo Hội mà Chúa Kitô đã lập ra để dạy một cách rõ ràng về đức tin và luân lý đã “rơi” vào một sự cám dỗ để có một “đường lối cứng rắn” về đạo đức? Điều gì bên cạnh điều kinh dị mà các tín hữu phải trải nghiệm khi một giáo hoàng nói những điều như vậy, những điều vốn chưa từng được nghe từ Toà Thánh Phêrô trong suốt 2.000 năm?

Người Công giáo biết rằng một cuộc cách mạng êm dịu thực sự đang xảy ra trong mỗi linh hồn vốn chịu Bí Tích Rửa Tội hay, tương ứng với ân sủng của sự ăn năn, đi vào tòa giải tội với một mục đích chắc chắn sửa đổi và một tấm lòng thống hối, trút bỏ gánh nặng tội lỗi, đón nhận ơn xá tội từ một linh mục đang hành động trong con người Đức Kitô, và ló ra “trắng như tuyết”, để dẫn chứng vị tiền nhiệm của cha đang nói về Bí Tích Giải Tội. Giáo Hội Công Giáo luôn luôn là một bình chứa lòng thương xót Chúa vô tận qua các Bí tích của Giáo hội. Những  đề xuất “cải tiến” nào của cha có thể thêm vào những gì Chúa Kitô đã cung cấp trong Giáo Hội của Người? Cha có thể tuyên bố một ân xá cho tội trọng không? Cha có thể tha thứ cho những gì không thể tha thứ mà không cần sự ăn năn và hối lỗi không? Cha có thể thành công hơn lòng thương xót của chính Thiên Chúa sao?

Nhận thức hàng ngày lớn lên rằng mặc dù cha là Đại Diện của Chúa Kitô, cha chỉ đơn giản không hứng thú gì trong việc bảo vệ đức tin và luân lý, vốn đang bị tấn công hơn bao giờ hết, và cũng không có ý định kêu gọi những con chiên đang lang thang vào đàn chiên mà Chúa chúng ta đã thiết lập cho sự cứu rỗi của họ. Ngược lại, dường như cha đã cống hiến triều đại giáo hoàng của cha cho một chương trình thực sự của tình trạng lỏng lẻo về giáo lý và kỷ luật mà chủ đề của nó là việc thường xuyên tố cáo người Công Giáo chính thống kết hợp với những lời buộc tội rằng Giáo Hội thiếu lòng thương xót. Đồng thời, cha theo đuổi các vấn đề xã hội và chính trị, trong đó một vị giáo hoàng không có chứ vụ hoặc thẩm quyền, chẳng hạn như “biến đổi khí hậu”, bảo vệ môi trường, và khôi phục lại quan hệ ngoại giao giữa Cuba và Hoa Kỳ.

Sau khi bị vùi dập bởi một cơn bão tranh cãi sau khi một vụ khác được gây ra bởi lời nói và việc làm chưa từng có của cha, các tín hữu ngày càng cảm thấy, như thể “con thuyền của Giáo Hội đã bị mất định hướng của nó.”

Tóm lại, thưa Đức Giáo Hoàng, trong hai năm rưỡi qua cha đã kiếm được lời khen ngợi nhất trí của thế giới trong khi ném sự thịnh vượng chung của giáo hội vào trạng thái hỗn loạn và chia rẽ. Cha đã nhạo báng, nhiếc móc và lên án tính chính thống, thể hiện sự khoan dung vô hạn đối với điều dị giáo và tà dâm, và đã âm mưu để phá vỡ kỷ luật bí tích được bảo vệ bởi chính Đức Giáo Hoàng mà cha tuyên bố là một vị thánh. Được hợp tấu khắp mọi nơi do sự nịnh hót của giới truyền thông và tiếng gầm rú của đám đông, cha dường như không chú ý tới lời khuyên của Thiên Chúa chúng ta: “Khốn cho các ngươi khi người đời sẽ chúc phúc cho ngươi. Vì lẽ những điều này đã làm cha ông của chúng thành những tiên tri giả”

Tình trạng này đã đạt đến điểm mà một quan chức cấp cao Vatican, phản ánh những mối quan tâm của người Công giáo về tất cả các cấp bậc, đã bị hạn chế để cảnh báo một nhà báo Công giáo nổi tiếng thế giới rằng “triều đại giáo hoàng này đặt ra những rủi ro nghiêm trọng đối với sự toàn vẹn của giáo huấn Công giáo về đức tin và luân lý.”

Trong thỏa thuận với vị giám mục này, chúng con trước Thánh nhan Chúa buộc phải công khai tuyên bố trong lương tâm rằng triều đại giáo hoàng của cha chỉ có thể được xem như là một mối nguy hiểm rõ ràng và hiện tại đối với Giáo Hội, một mối nguy hiểm mà dường như gia tăng theo từng ngày qua đi. Thật vậy, các tác hại của triều đại giáo hoàng của cha được nhìn thấy ở khắp nơi, với người Công giáo trên toàn thế giới hiện nay đang đối xử ngày càng thô bạo hơn các giáo huấn của Giáo Hội về đức tin và luân lý, lấy đó như là quan điểm của họ về việc tham khảo lời nói và hành động của chính cha – tưng bừng rống lên với thế giới bằng phương tiện truyền thông – thay cho giáo huấn không thể sai lầm của Huấn Quyền về đức tin và luân lý hơn 2.000 năm qua.

Hiện nay, khi cha lên án “đường lối cứng rắn” của Giáo Hội về “quy tắc đạo đức” và tuyên bố một “cuộc cách mạng êm dịu”, chúng con đang phải đối mặt với mối đe dọa sắp xảy ra về “cử chỉ” chưa từng có của “lòng thương xót” vốn sẽ làm suy yếu đạo đức lâu dài của Giáo Hội nhằm gây hại lớn lao cho các linh hồn vốn dĩ sự cứu rỗi của họ đang bị đe dọa. Trong số những cử chỉ sẽ xuất hiện như là một Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng cổ võ việc ủy quyền thâu nạp thêm những kẻ ngoại tình công khai rước lễ, theo xét xử riêng tư của các giám mục hoặc của hội đồng giám mục. Điều này sẽ không khác gì phạm thánh đại chúng, thực hành hủy diệt sự hiệp nhất của Giáo Hội, trong thực tế bãi bỏ giáo huấn về tội trọng và nhu cầu tình trạng ân sủng cho một đời sống bí tích, sự sụp đổ giáo huấn luân lý của Giáo Hội, và cuối cùng một sự đầu hàng về tuyên bố của Giáo hội đối với một Huấn Quyền không thể sai lầm. Người ta có cảm giác về một khúc quanh cận kề thuộc sách khải huyền về các biến cố trong lịch sử Giáo Hội.

Chúng con không dám phán xét những động cơ hay ý định gì của cha liên quan đến những gì cha đã nói và đã làm đối với sự tổn hại của Giáo Hội trong nhiệm kỳ của một triều đại giáo hoàng hỗn loạn không giống như bất kỳ Giáo Hội nào trước kia. Nhưng chúng con không thể giữ im lặng khi đối mặt với mục tiêu làm hại Giáo Hội đã thực sự có từ lâu, đối với khen ngợi bất tận của thế giới cho “giáo hoàng của người dân”, hoặc sự thiệt hại xa hơn mà giờ đây sắp xảy ra.

Để nhắc lại một lần nữa những lời của người tiền nhiệm của cha, một giáo hoàng phải thực thi quyền của mình để “ràng buộc bản thân và Giáo Hội vâng phục Lời Chúa, khi đối mặt với mọi nỗ lực nhằm sửa đổi nó hoặc làm suy yếu nó, và mọi hình thức của chủ nghĩa cơ hội”. Khi một giáo hoàng không thể hoặc không muốn theo đuổi mục đích đó, trong khi thực tế vị ấy có vẻ quyết tâm hành động chống lại nó, thì chẳng lẽ Giáo Hội không được phục vụ tốt hơn nếu ngài từ bỏ chức phận oai nghiêm nhất của vị Đại Diện của Chúa Kitô? Thà có điều này còn hơn là nguy cơ một thỏa hiệp chết người về giáo lý và kỷ luật của Giáo hội, phá hoại 2.000 năm truyền thống tông đồ và truyền thống Giáo Hội và phải gánh chịu “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa Toàn Năng và các Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô”, theo trích dẫn thể thức nổi tiếng được Thánh Giáo Hoàng Piô V thực hiện.

Tác giả: Giáo Hội Còn Sót Lại

Thời Cuối chuyển dịch từ: http://remnantnewspaper.com/web/index.php/articles/item/2198-the-year-of-mercy-begins