Kỳ họp Thượng Hội Đồng Giám Mục đã thất bại, mọi người đã thua cuộc; và nói riêng là giáo lý Công Giáo đã thất bại

Ngày 27 tháng 10 năm 2015

Ngay sau kỳ họp thứ 14 của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình, mọi người dường như đã đạt được thắng lợi. Giáo Hoàng Phanxicô đã thắng cuộc vì ông ta đã có thể đạt được một văn bản thỏa hiệp giữa các quan điểm chống đối nhau; phe cải cách đã chiến thắng vì văn bản được thông qua đã chấp thuận cho  người tái hôn và người ly dị được lãnh nhận Mình Thánh; phe tuân giữ truyền thống cũng thắng cuộc vì trong tài liệu không có nội dung nào đề cập rõ ràng việc cho phép trao ban Mình Thánh cho những người đã ly dị (và tái hôn) và bác bỏ “hôn nhân đồng tính” cũng như học thuyết về giới tính.

Để có thể hiểu rõ hơn những sự việc thực sự đã diễn ra như thế nào, chúng ta cần quay trở lại  vào buổi tối ngày 22 tháng 10, khi mà các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng Giám Mục được cung cấp bản phúc trình chung cuộc vốn do một ủy ban đặc biệt biên soạn một cách tức thời dựa trên cơ sở các bổ sung đóng góp cho văn kiện hội nghị  (Instrumentum laboris), mà các bổ sung này được đề nghị từ các nhóm làm việc phân chia theo ngôn ngữ (circuli minors)

Điều hết sức ngạc nhiên đối với các Nghị phụ trong Thượng Hội Đồng là văn bản họ nhận được vào buổi tối thứ năm lại chỉ toàn là tiếng Ý với đề nghị cấm tuyệt đối không được trao đổi thông tin, không chỉ với giới báo chí mà ngay cả với 51 người dự thính và những người tham dự khác có mặt trong cuộc họp. Văn bản cũng chẳng ngó ngàng gì đến 1355 điều bổ sung sửa đổi đã được đề nghị trong tiến trình cuộc họp diễn ra từ ba tuần lễ trước đó, cũng như đề nghị có tính trọng yếu được tái đề xuất ghi lại thành điều ghi nhớ trong văn kiện hội nghị (Instrumentum laboris), bao gồm những phân đoạn đã làm dấy lên lời chỉ trích mạnh mẽ nhất trong cuộc họp: một phân đoạn là nói về tình trạng đồng tính luyến ái và phân đoạn còn lại là nói về những người tái hôn và người ly dị.

Các cuộc thảo luận đã chốt lại vào buổi sáng ngày hôm sau với khả năng có thể đưa ra những bổ sung điều chỉnh mới từ cuộc họp tối hôm trước được trình bày trong một văn bản thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ do phía các Nghị Phụ quyết định. Nhưng vào buổi sáng ngày 23 tháng 10, Giáo Hoàng Phanxico, người đã luôn theo dõi sát sao các cuộc họp, chính ông đã không ngờ vì văn bản này mà có nhiều người phản đối mình đến như vậy.

Thực tế là 51 Nghị phụ đã tham gia trong cuộc thảo luận, phần đông các ngài đã chống đối lại văn bản mà Giáo Hoàng ủng hộ. Trong số đó có các Hồng Y:  Marc Ouellet, Trưởng đoàn Giám Mục;Joseph Kurtz, Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Hoa kỳ; Angelo Bagnasco,Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Ý, Jorge Liberato Urosa Savino, Tổng Giám Mục Caracas; Carol Caffarra, Tổng Giám Mục Bologna; và các Giám Mục: Zbignevs Gadecki, Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Ba Lan; Henry Hoser, Tổng Giám Mục-Giám Mục Warszawa, Prague; Tadeusz Kondrusiewicz,Tổng Giám Mục Minsk-Mophilev; Stanislaw Bessi Dogbo; Giám Mục Katiola (Bờ Biển Ngà), Hlib Borys Sviatoslav Lonchyna, Giám Mục Thánh Gia Luân Đôn của vùng Ukrainian Byzantines, và nhiều người khác nữa, tất cả đều lên tiếng với những giọng điệu khác nhau để nêu lên sự bất đồng ý kiến của họ về văn bản này.

Chắc chắn là bản phúc trình này không thể được đưa ra lần nữa trong cuộc họp ngày hôm sau với nguy cơ nó sẽ chỉ được ủng hộ bởi một thiểu số người và gây ra một sự chia rẽ lớn lao. Người ta đã tìm kiếm giải pháp cho một sự thỏa hiệp dựa theo đường hướng được vạch ra bởi nhóm người “Germanicus” gồm có Hồng Y Kasper, biểu tượng cho thuyết cải cách, và Hồng Y Muller, Tổng trưởng Bộ Đức Tin. Trong khoảng thời gian giữa chiều ngày thứ sáu và sáng thứ bảy, Ủy ban soạn thảo đã sửa đổi lại để đưa ra một bản phúc trình mới vốn sẽ được đưa ra đọc trước Hội Nghị vào sáng ngày thứ bảy 24 tháng 10, và sau đó sẽ bỏ phiếu vào buổi chiều nhằm đạt cho được việc thông qua từng phần một trong 94 phân đoạn với đa số phiếu bầu đủ tư cách là hai phần ba, tương ứng với 177 phiếu trong tổng số 265 Nghị phụ có mặt tại Thượng Hội Đồng.

Trả lời ngắn gọn trước các hãng thông tấn vào ngày thứ bảy, Hồng Y Schönborn đã dự đoán về kết quả có liên quan đến chủ đề gây tranh cãi nhiều nhất: người tái hôn và ly dị như sau: “ Có quá nhiều cuộc tranh luận về chủ đề này với sự quan tâm hết sức lớn lao, nhưng từ ngữ cốt lõi là “sự phân định”, và tôi mời gọi tất cả mọi người hãy nghĩ rằng sự phân định đó không phải là từ ngữ đen hoặc là trắng, hay chỉ đơn giản là từ ngữ có hoặc là không, đó là sự phân định, và đây là từ ngữ chính xác của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao lô II trong Tông huấn về Gia Đình: “nhiệm vụ để vận dụng sự phân định vì các hoàn cảnh thì khác nhau”, và Giáo Hoàng Phanxicô, là một người thuộc Dòng Tên, lúc còn trẻ đã nghiên cứu tính cần thiết của sự phân định như sau: “sự phân định là sự tìm hiểu hoàn cảnh đặc biệt của đôi vợ chồng hay riêng một cá nhân nào đó”.

Phân định và Hội nhập là tiêu đề của các phân đoạn 84,85 và 86. Phân đoạn gây nhiều tranh cãi nhất là ở phân đoạn 85, vốn đưa ra một lối mở cho người tái hôn và ly dị, và khả năng có thể cho họ lãnh nhận Các Bí Tích – thậm chí không đề cập rõ ràng việc trao ban Mình Thánh – đã được thông qua với 178 phiếu chấp thuận, 80 phiếu chống và 7 phiếu trắng *. Chỉ có một phiếu bầu thêm nhằm đạt được số đại biểu quy định là hai phần ba.

Hình ảnh của Giáo Hoàng Phanxicô không còn được củng cố để nổi bật nữa nhưng đã bị lu mờ và trở nên yếu ớt vào lúc khép lại cuộc họp của các Giám Mục. Bản phúc trình mà ông ủng hộ đã bị phản đối một cách công khai bởi đa số các Nghị Phụ trong Thượng Hội Đồng vào buổi sáng ngày 23 tháng 10, “ngày đen tối” của ông ta. Bài phát biểu bế mạc của Giáo Hoàng Bergoglio không thể hiện một chút nhiệt tình nào đối với bản phúc trình chung cuộc nhưng chỉ là lập lại sự không hài lòng của ông ta đối với các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng vốn là những người bảo vệ các quan điểm mang tính truyền thống.

Vì vậy, trong số những điều đã phát biểu vào buổi tối thứ bảy, Giáo Hoàng đã nói: (Cuộc họp Thượng Hội Đồng)  “đã phơi bày ra những tâm hồn khép kín vốn thường ẩn nấp đằng sau những Giáo Huấn của Giáo Hội hoặc những đường hướng ngay lành, để ngồi trên ghế của ông Mô sê và phán xét, đôi khi phán xét những hoàn cảnh khó khăn và những gia đình bị tổn thương bằng vị thế cao cả  và thái độ hời hợt. Cuộc họp Thượng Hội Đồng nhằm mục đích mở ra những chân trời rộng lớn hơn, vượt lên trên những lý thuyết lầm lạc và những quan điểm hẹp hòi, để bảo vệ và truyền bá sự tự do của con cái Thiên Chúa, và để loan truyền vẻ đẹp của Tinh thần Kitô hữu mới, đôi khi đã bị che lấp bởi một thứ ngôn ngữ cổ xưa hay hoàn toàn không thể hiểu được.” Những từ ngữ nặng nề diễn tả sự cay đắng và bất mãn: rõ ràng không phải là ngôn từ của người thắng cuộc.

Những người thuộc phe cải cách cũng đã bị đánh bại, họ thấy rằng không chỉ báo cáo mang tính lạc quan của họ về tình trạng đồng tính luyến ái bị gạt bỏ mà cả lối mở ra cho người ly dị và người tái hôn lại càng không rõ ràng như họ mong muốn. Tuy vậy, những người theo phe tuân giữ truyền thống cũng không thể hát bài ca thắng trận. Nếu như 80 vị Nghị Phụ, chiếm một phần ba cuộc họp, đã bỏ phiếu không tán thành phân đoạn 86, thì điều này có nghĩa là không có gì tốt đẹp. Sự thật là dù cho phân đoạn này đã được thông qua với một phiếu thì cũng không xóa bỏ được sự nguy hại chứa đựng trong đó.

Theo như bản phúc trình chung cuộc, việc tham gia của người ly dị và người tái hôn vào đời sống Giáo Hội có thể diễn đạt theo ý nghĩa “những sự giúp đỡ khác nhau”; vì vậy, đó là điều cần thiết: để phân định nó là một trong những hình thái khác nhau nào cần phải loại trừ mà những hình thái này hiện đang được thực hiện trong các vai trò mang tính phụng vụ, giáo dục, mục vụ và từ thiện mà người ta có thể khắc phục được. Người ly dị và người tái hôn không nên chỉ nghĩ là họ bị rút phép thông công, nhưng họ nên sống và trở nên hoàn thiện như là những thành viên đang sống trong Giáo Hội” (phân đoạn 84); Con đường của sự đồng hành và phân định, hướng những tín hữu này đến việc nhận thức rõ về tình trạng của họ trước Mặt Thiên Chúa. Việc trao đổi của họ với linh mục nơi tòa trong để cùng nhau đưa ra một sự đánh giá chính xác về điều gì ngăn cản khả năng hội nhập đầy đủ hơn của họ vào trong đời sống Giáo Hội và những tiến trình có thể thúc đẩy và làm cho sự hội nhập của họ phát triển theo chiều hướng tốt.

Thế nhưng “một thành viên đang sống trong Giáo Hội” có ý nghĩa gì, nếu như nó không mang ý nghĩa là đang ở trong tình trạng ân sủng và được lãnh nhận Mình Thánh ? Và “tham gia đầy đủ hơn vào đời sống của Giáo Hội” là không bao gồm cho một giáo dân, tham gia vào Bí Tích Thánh Thể” hay sao? Phân đoạn 86 nói rằng các hình thức của việc loại trừ hiện đang được thực hiện trong các lãnh vực mang tính phụng vụ, giáo dục, mục vụ và từ thiện mà người ta có thể khắc phục được, “cho từng trường hợp cụ thể”, dựa theo một “sự suy xét thận trọng”. Như vậy có thể khắc phục được việc không trao ban Bí Tích Thánh Thể hay không? Văn bản không khẳng định, nhưng cũng không loại trừ điều này. Cánh cửa không mở rộng, chỉ là hé mở thôi, và vì vậy không có khả năng để phủ nhận rằng cửa đã được mở.

Bản phúc trình không khẳng định ban quyền cho người ly dị và người tái hôn được lãnh nhận Mình Thánh (và như thế là ban quyền cho người ngoại tình), nhưng trên thực tế, bản phúc trình không thừa nhận Giáo Hội có quyền để định rõ một cách công khai về tội ngoại tình, tình trạng của người ly dị và người tái hôn, mà để trách nhiệm đánh giá việc này lại cho các linh mục và cho chính người ly dị và người tái hôn.

Lại bàn đến cách diễn đạt trong Bản Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo của Công Đồng Vaticanô II, thì không thấy nói đến quyền “được” phạm tội ngoại tình mà là một thứ quyền mang tính “tiêu cực” trong việc không bị ngăn cản để phạm tội ngoại tình, nói cách khác, là một quyền “miễn trừ khỏi tình trạng bị ép buộc về các vấn đề đạo đức”. Đúng như trong Bản Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo của Công Đồng Vaticanô II, sự khác biệt cơ bản giữa phán quyết của “tòa trong”  liên quan đến ơn cứu rỗi đời đời cho những tín hữu có tính cá biệt, và “sự phán quyết của tòa án giáo hội”, liên quan đến lợi ích của cộng đồng các tín hữu, đã bị bãi bỏ.

Trong thực tế, Bí tích Thánh Thể không chỉ là việc tham gia của một cá thể mà còn là sự tham gia của mọi người trong cộng đồng các tín hữu. Giáo Hội, khi không dựa vào quyết định của tòa trong, luôn luôn không cho phép trao Mình Thánh cho người ly dị và người tái hôn, vì đó là một tội mà họ nhận biết, do tòa án giáo hội quy định. Lề luật đạo đức được tiếp thu bởi lương tâm, mà lương tâm không chỉ là một nơi chốn mới mẻ mang tính lý thuyết và đạo đức mà còn là một nơi nhận biết để tuân theo lề luật của giáo hội.

Về khía cạnh này, bản phúc trình chung cuộc đã kết hợp cách khéo léo với hai bản Tự sắc mới của Giáo Hoàng Phanxicô, mà một sử gia của trường Bologna đã nêu bật tầm quan trọng của nó trên trang báo Corriere della Sera của Ý vào ngày 23 tháng 10 là “Bằng cách giao lại cho các Giám Mục việc phán quyết xác nhận hôn phối vô hiệu, Bergolio đã không thay đổi tình trạng của những người ly dị, nhưng đã làm một việc hết sức to lớn trong sự thinh lặng để cải cách triều đại giáo hoàng”.

Việc giao quyền cho Giám Mục giáo phận, như là vị thẩm phán duy nhất để đưa ra một quy trình cứu xét ngắn gọn với sự thận trọng, và đạt tới một bản tuyên án, thì cũng giống như việc giao quyền cho Giám Mục trong việc phân định điều kiện mang tính đạo đức của những người tái hôn và ly dị. Nếu như một Giám Mục địa phương vẫn theo dõi chiều hướng của sự phát triển về mặt tâm linh và có sự phân tích sâu sắc về một người vốn đang sống trong một cuộc hôn nhân mới đã trọn vẹn, thì người này có thể được lãnh nhận Mình Thánh. Bài diễn văn của Giáo Hoàng Phanxicô ngày 17 tháng 10 trước Thượng Hội Đồng nêu rõ “sự phân quyền” theo kế hoạch đặt ra cho việc cơ cấu trong giáo hội về việc giải quyết các vấn đề thuộc hệ thống đạo đức  “theo từng trường hợp cụ thể”. Vào ngày 24 tháng 10, Giáo Hoàng khẳng định rằng: “Và – khi tách rời khỏi những vấn đề mang tính giáo điều đã được định nghĩa rõ ràng trong Huấn quyền của Giáo Hội – chúng ta cũng nhận ra rằng: điều dường như là bình thường đối với một Giám Mục ở châu lục này thì lại bị xem là kỳ lạ và hầu như là đáng kinh tởm với một Giám mục ở châu lục khác; điều bị coi là xâm phạm quyền lợi trong một xã hội này thì lại là một luật lệ rõ ràng và không thể bị xâm phạm ở một xã hội khác; điều mà đối với một số người là sự tự do của lương tâm thì đối với những người khác lại là sự hoàn toàn hỗn loạn. Trong thực tế thì các nền văn hóa có sự thay đổi không nhiều lắm, và từng nguyên tắc chung cần được làm cho thích nghi với các nền văn hóa nếu như nguyên tắc chung đó được tôn trọng và được đưa vào áp dụng.” Hệ thống đạo đức về sự thích nghi với các nền văn hóa, là nói đến việc giải quyết  “theo từng trường hợp cụ thể”, nhằm làm cho sự việc trở nên tương đối và làm hòa tan thứ luật mang tính đạo đức, là luật mà theo định nghĩa là tuyệt đối và có tính phổ quát. Không có những ý định tốt lành nào, cũng như không có những tình tiết giảm nhẹ nào có thể làm biến đổi một việc làm tốt thành một việc làm xấu hoặc là ngược lại. Hệ thống đạo đức của đạo Công Giáo không chấp nhận các trường hợp ngoại lệ: hệ thống đạo đức này là tuyệt đối và có tính phổ quát, nếu không thì hệ thống đạo đức này không phải là một thứ luật có tính đạo đức nữa. Như vậy, báo chí không hề sai khi họ đưa ra tiêu đề cho bản phúc trình cuối cùng là: “Luật cấm tuyệt đối việc trao ban Mình Thánh cho người tái hôn và người ly dị đã thất bại”.

Cuối cùng thì chúng ta tự nhận ra mình đã đối mặt với một bản phúc trình mâu thuẫn và hàm hồ, bản phúc trình cho phép mọi người hò reo chiến thắng; ngay cả khi chẳng có ai thắng trận cả. Tất cả đều bị đánh bại, bắt đầu từ hệ thống đạo đức của đạo Công Giáo vốn làm cho mọi người nhận ra là hệ thống đạo đức này đã bị suy giảm một cách sâu sắc bởi cuộc họp Thượng Hội Đồng về Gia Đình kết thúc vào ngày 24.10.2015.

Tác giả: Roberto de Mattei

MTH chuyển dịch từ: http://www.rorate-caeli.blogspot.com/2015/10/de-mattei-failed-synod-everyone.html?m=1#more

* 178 phiếu chấp thuận, 80 phiếu chống và 7 phiếu trắng: Không ngờ trong hàng giáo phẩm mà có nhiều vị muốn phá hủy giới rắn Chúa đến như vậy!