Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (toàn phần)

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 1)
Tản mạn 2015 – 02,
Hai năm sau ngày từ nhiệm của đức giáo hoàng Biển Đức XVI, biến cố 600- năm-mới-xảy-ra này, vẫn còn là đề tài bàn ra tán vào của nhiều người.

Ngài tuyên bố rạch ròi Ngài từ nhiệm vì lý do sức khoẻ.

Nhưng có người vẫn không chịu chấp nhận ngài từ nhiệm trong tự do hoàn toàn .

Có người nêu lên rằng so với Ngài, tình trạng sức khoẻ của đức Gioan Phaolô đệ Nhị còn tệ hại hơn nhiều. mà đức Wojtyla không hề nghĩ đến chuyện từ nhiệm

Nhiều nhà thần học, như Enrico Maria Radaelli còn viện cớ: Làm giáo hoàng là làm “suốt đời-ad vitam.”(http://chiesa.espresso.repubblica.it/articolo/1350437?eng=y )

Hôm thứ Tư, ngày 11 tháng Hai vừa qua, đức Ông Georg Gaenswein đã nói trên tờ báo tiếng Ý Corriere della Sera rằng “Benedict XVI is convinced that the decision that he took and communicated was right. He has no doubts.- Đức Biển Đức xác tín rằng quyết định Ngài đã chọn và tuyên bố là đúng đắn. Ngài không hề có chút hồ nghi nào.”

(http://www.nytimes.com/aponline/2015/02/12/world/europe/ap-eu-rel-vatican-benedicts-resignation.html?ref=aponline&_r=1)

Và tác giả bài viết, Adam Chandler, lập luận rằng, năm ngoái Reuter đã loan tin đức Ông đã một lần lên tiếng minh định dùm cho đức Biển Đức XVI rồi, năm nay lại minh định thêm nữa.

(http://www.reuters.com/article/2014/02/26/us-pope-benedict-resignation-idUSBREA1P0KV20140226)

Như vậy có quá không? Hàm ý rằng, những xầm xì to nhỏ của giới thành thạo chuyện Vatian , gọi là “vaticanist” phải chăng có nền tảng nào đó.

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 2)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/04/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang_28.html

Theo Jason Horowitz, trong bài báo ngày 13 tháng Hai 2013, trên tờ Washington Post
( http://www.washingtonpost.com/lifestyle/style/pope-benedict-xvis-leaked-documents-show-fractured-vatican-full-of-rivalries/2013/02/16/23ce0280-76c2-11e2-8f84-3e4b513b1a13_story.html)

đức Biển Đức đã đặt Carlo Maria Viganò phụ trách việc thực hiện một loạt các cải tổ trong nội bộ Vatican. Nhưng một vài vị hồng y cao cấp nhất trong giáo triều đã làm “kỳ đà cản mũi” và gây sức ép để đẩy Viagnò đi làm khâm sứ tại Mỹ.

Ngay sau đó xảy ra vụ mà báo chí đặt tên là vụ “Vatileak.” Một số lớn các thư tín cá nhân của đức Biển Đức bị lọt ra ngoài, Đa số thư bị lọt ra ngoài đều là các thư từ nói về những kèn cựa tranh chấp, dèm pha, thủ đoạn phản bội, và các cáo buộc hối lộ, cách chức đang xảy ra trong nôi bộ Vatican.

Thủ phạm, người “tuồn” các thư từ cá nhân của đức thánh cha ra ngoài, chính là Paolo Gabrielle, thư ký của đức Biển Đức XVI.

Toà Thánh lên án vụ ăn cắp này, và gọi vụ này là một “hành vi vô luân có mức độ trầm trọng chưa thể lường được .”

Gabrielle bị bắt và bị xử.

Lập túc báo chí đánh hơi thấy có tranh chấp quyền lực phía sau vụ việc.

(http://www.washingtonpost.com/national/on-faith/vatican-official-calls-leaked-documents-an-immoral-and-brutal-attack/2012/05/29/gJQAUSdlzU_story.html)

Sau đây là vài hàng chung quanh câu chuyện :

Công việc chính của Gabriele là chăm sóc áo sống, pha cà phê, lái xe. Công việc bán chính thức, và lén lút, là chúi mũi vào thư từ riêng của đức Biển Đức XVI, trong đó có thư của Viganò là đáng để ý nhất.

Đức Tổng giám mục Viganò là người ủng hộ và thi hành các canh tân trong giáo triều theo ý đức Biển Đức. Vì thế việc này đem lại cho ngài rất nhiều thù địch.

Vào đầu năm 2011 một loat các bài báo nặc danh tấn công Ngài xuất hiên trên báo chí Ý. Dưới sức ép này, ngài cầu cứu đến người có thế lực đứng hàng tthứ hai tại Vatican, hồng y quốc vụ khanh Tarcisio Bertone. Đức Bertone đã không có hảo cảm với Viganò, lại còn đồng tình với các bài báo, phê bình cách làm việc cứng rắn của Viganò, và cách chức Viganò khỏi chức vụ đang giữ.

Thế là thư từ bay đi bay lại như bướm qua văn phòng của đức Biển Đức.

Trong một bức thư, đức Viganò viết cho đức Bertone kết án Bertone đã xen vào việc canh tân giáo triều của đức giáo hoàng, Và còn trách đức Bertone đã không giữ lời hứa nâng mình lên hàng hồng y. Viganò gửi một bản sao bức thư này cho đức thánh cha.

Trong một bức thư khác nữa, ngài dùng chữ “corruption- hối lộ” trong Vatican. “Việc thuyên chuyển tôi vào lúc này – ngài viết – hẳn sẽ gây ra nhiều mất phương hướng và thất vọng nơi những người tin tưởng rằng còn có thể dọn dẹp rất nhiều hoàn cảnh có chuyện hối lộ và tham quyền cố vị vốn đã bén rễ sâu trong cách điều hành nhiều ban bệ.”

Chẳng hạn ngài nêu lên một hãng thường cứ trúng thầu, tuy vẫn phải trả cho họ với giá gấp đôi giá ở ngoài !

Nỗ lực kêu cứu của ngài thất bại. Và ngài phải đổi đi làm khâm sứ tại Mỹ.

Ngài than phiền với đức thánh cha, trong bức thư ngày 7 tháng Bẩy năm 2011: “Nếu là lúc khác, việc thuyên chuyển này là một dịp để vui mừng và là một dấu hiệu được ưu đãi. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, việc chuyển đổi này được coi là một lời lên án công việc con đang làm, và như thế, đây là một trừng phạt.”

Ngài còn gợi ý rằng “hẳn đức thánh cha sẽ chẳng được biết gì về chuyện này.”

Viên thư ký Gabriele cũng đồng ý như thế, nên đã tìm một cách không chính đáng để gây sự chú ý của đức giáo hoàng.

Qua các tay trung gian, ông liên lạc được với Gianluigi Nuzzi, một người mà Sandro Magister mô tả là tay nhà báo “đã nhận và công bố các tài liệu do viên thư ký bất trung ăn cắp được từ đức Biển Đức XVI, và cô [Chaouqui] đã miệt mài đưa tin cho trang mạng dagospia.com, một nguồn thông tin được nhiều người theo dõi tại Ý về những chuyện ngồi lê đôi mách và vu oan giá họa về Vatican. “(http://chiesa.espresso.repubblica.it/articolo/1350582?eng=y)

Nuzzi liên lạc đệ gặp Gabriele trong một căn chung cư bỏ trống gần Vatican. Họ bí mật gặp nhau mỗi thứ Năm. Gabriele đến bỏ tài liệu ăn cắp được vào một cái hộp thư chết, sau đó Nazzi đến lấy, và Nazzi dấu nó bằng cách may cái usb ấy vào cà-vạt.

Một hôm. Gabriele mang cả 13 trang tài liệu dấu trong lưng áo. Nuzzi dùng số tài liệu này để viết thành cuốn sách “His Holiness: The Secret Papers of Pope Benedict XVI,” xuất bản năm ngoái

Chính đức ông Georg Gaenswein tìm ra được “con ong trong tay áo.”

Cảnh sát tìm ra được 82 thùng tài liêu trong nhà của Gabriele. Ông bị bắt, xử có tội, nằm tù vài tháng. Sau đó, ông được đich thân đức Biển Đức tha thứ.

“Nhìn ra sự ác và hối lộ khắp nơi trong giáo hội, tôi đã sa xuống một mức tồi tệ đến độ không trở ngược được, và không còn tự chủ được.” Ông giải thích với các điều tra viên tại Vatican như thế. “Tôi tìm cách để tạo ra một chấn động, “có lẽ qua báo chí” để đưa giáo hôi trở lại con đường chân chính.”

Gabriele thành tâm thật sự? Hay sau lưng ông còn có thế lực nào khác xúi bẩy?

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 3)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/04/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang_23.html

Còn có thế lực nào khác xúi bẩy? Câu hỏi này sẽ còn được nêu lên nhiều lần nữa trong loạt bài tản mạn năm nay .

Đây không thể không là một nỗi đau đớn ghê gớm dành cho Ngài. Đức giáo hoàng bị chính người thân tín trong nhà phản bội!

Mọi chuyện mọi người muốn dấu kín trong nội vi Vatican, nay được tỏ lộ cho toàn thế giới!

Nhưng chấn động Gabriele muốn tạo ra để “mong đưa Giáo hội trở lại con đường chân chính”, không thành công như ý ông muốn, mà việc để lộ tin tức lại càng làm cho hồng y Tarcisio Bertone củng cố thêm quyền hành cho mình.

Theo Jason Horowitz trong bài báo nói trên, đức Biển Đức là khuôn mặt nổi của giáo hội thế giới nhìn vào, còn Tarcisio Bertone, lại là người điều hành toàn bộ công việc của Vatican.

Năm 2006 đức Biển Đức đặt người phụ tá lâu năm của mình lên làm quốc vụ khanh. Việc này khiến các vị lão luyện trong giới ngoại giao của Vatican e ngại. Vì việc đề cử này gây nguy hại cho nền ngoại giao truyền thống của Giáo hội.

Đức Bertone khẳng định điều lo ngại này. Những vị theo phe cánh ngài, nắm những vị trí quan trọng trong lãnh vực tài chính của giáo hội.

Và vị trí của Bertone cũng đồng nghĩa với vị trí chủ tịch của nhà băng Vatican, một ví trí ngài có vẻ muốn ngăn cản đức Biển Đức cải cách

(http://www.washingtonpost.com/world/europe/pope-struggled-to-lift-sacred-secrecy-of-vatican-finances/2013/02/15/a1620d06-7760-11e2-b102-948929030e64_story.html)

Đọc thêm các bài của Sandro Magister

(http://chiesa.espresso.repubblica.it/articolo/1350551?eng=y)

Chúng ta đừng quên, trong bối cảnh ấy, Giáo hội còn phải đương đầu với những phản đối, chỉ trich gay gắt về vụ các linh mục bê bối tình dục.

Đích thân đức giáo hoàng còn bị các nạn nhân, qua tay ICC, doạ truy tố và chịu trách nhiệm về các vụ bê bối này.

Đọc thêm bài sau trên tờ The Guardian

(http://www.theguardian.com/world/2013/feb/11/pope-complicit-child-abuse-say-victims)

Và bài này :

(http://www.nytimes.com/2011/09/14/world/europe/14vatican.html?src=tp&smid=fb-share&_r=3&)

ICC viết tắt của The International Criminal Court, Toà án tội phạm quốc tế có quyền thẩm về tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại, tội diệt chủng, vi phạm sau ngày 1 tháng Bẩy 2002. Toà này độc lập với Liên Hiệp Quốc, và có quyền thẩm trong 117 quốc gia đã ký vào Quy Chế Roma. Đặc biệt Vatican và Hoa kỳ không ký vào quy chế này .

Ngoài đích danh đức giáo hoàng, toà này còn truy tố hồng y Tarcisio Bertone, quốc vụ khanh; hồng y Angelo Sodano, cựu quốc vụ khanh, và lúc ấy đang là niên trưởng hồng y đoàn; và hồng y William J. Levada, bộ trưởng bộ giáo lý đức tin, là bộ nhận hồ sơ các vụ bê bối tình dục ấy.

Và ICC doạ sẽ trưng thu tài sản của giáo hội để bù đắp thiệt hại cho các nạn nhân.

Khi nhìn vào quy chế và cách thành lập của toà này, chúng ta thấy chuyện ICC thiết lập hồ sơ là chuyện không thích đáng với quy chế của mình. Nhưng ít ra, toà này đã tạo ra một tiếng vang lớn, và một áp lực không phải nhỏ.

Bây giờ bình thản viết lại các biến cố này, chúng ta không còn cảm được tình hình nghiêm trọng và bi thảm lúc bây giờ. Cả thế giới đêm ngày như chỉ rình rập các động thái của Giáo hội, xem coi Toà thánh ứng xử như thế nào.

Họ không thấy và không thèm nhìn thấy cả rừng cây đang đứng yên, mà chỉ chỉ nghe ra tiếng một thân cây đổ nhào. Rồi làm lớn chuyện.

Đọc lại báo cũ ngày 26 tháng Ba năm 2010, hãng AP đăng bài có ý kiến:

“Khi Tuần Thánh đến gần, nhiều nhóm nạn nhân các vụ bạo hành tình dục, và những kẻ “theo đóm ăn tàn” mạnh tiếng yêu cầu đức Biển Đức nhận trách nhiệm. Vài người còn yêu cầu Ngài từ nhiệm. Nhiều nguời còn sợ rằng vụ tai tiếng làm cho tín hữu Công giáo sẽ rời bỏ Giáo hội … Khi tình hình thêm trầm trọng, Vatican lên tiếng một cách thiếu kiên nhẫn, đôi khi phẫn nộ, cho rằng có cả một chiến dịch nhằm bôi nhọ đức giáo hoàng . Tờ “L’Osservatore Romano,” viết rõ “có cả một chủ ý rõ ràng mốn hạ gục đức Biển Đức “bằng bất cứ giá nào.”

Xem thêm tại :

http://www.masslive.com/news/index.ssf/2010/03/legacy_of_pope_benedict_xvi_th.html

Dưới sức ép như thế, mà nói đức thánh cha từ nhiệm trong hoàn toàn tự do, là điều nhiều người còn bàn cãi.

Ai là kẻ đứng sau xúi bẩy tất cả những chuyện này ?

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 4)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/07/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang.html

Hai tháng trước đây, đức Tổng giám mục về hưu Jan Pawel Lenga , giáo phận Karaganda, ở Kazakhstan, đã viết một bức thư ngỏ, cho rằng việc từ nhiệm của đức Biển Đức là bị ép buộc. Ngài không đưa ra bằng chứng trong thư.
(http://rorate-caeli.blogspot.com/2015/02/rorate-exclusive-open-letter-by.html#more)

Mục đích của ngài là hy vọng thúc giục các tín hữu lâu nay đã vùi đầu trong cát quá lâu.
Nhà cháu xin dịch trọn bài:

Reflections on some current problems of the crisis of the Catholic Church

Suy tư về một vài vấn đề hiện hành của cơn khủng hoảng trong Giáo Hội Công giáo

I had the experience of living with priests who were in Stalinist prisons and camps and who nevertheless remained faithful to the Church. During the time of persecution they fulfilled with love their priestly duty in preaching Catholic doctrine thereby leading a dignified life in the imitation of Christ, their heavenly Master.

Tôi có kinh nghiệm sống với các linh mục từng ở trong nhà tù và trại cải tạo của Staline. Tuy vậy, các ngài vẫn kiên gan trung thành với Giáo hội. Trong thời bách hại, các ngài đã hoàn thành thừa tác vụ linh mục lòng đầy yêu thương, khi các ngài rao giảng Giáo Lý Công giáo, nhờ đó, dẫn đến việc sống một cuộc đời đầy phẩm cách, theo gương Chúa Kytô, Người Thầy trên trời của họ.

I completed my priestly studies in an underground Seminary in the Soviet Union. I was ordained a priest secretly during the night by a pious bishop who himself suffered for the sake of the faith. In the first year of my priesthood I had the experience of being expelled from Tadzhikistan by the KGB.

Tôi hoàn thành nền học vấn đào tạo linh mục trong một chủng viện hầm trú thời Liên Bang Sô Viết. Tôi được phong chức linh mục một cách bí mật, vào đúng đêm có một giám mục đạo đức phải chịu đau khổ để bảo tồn đức tin. Trong năm đầu đời linh mục, tôi có được kinh nghiêm bị Công An KGB đuổi khỏi Tadzhikistan.

Subsequently, during my thirty-year stay in Kazakhstan, I served 10 years as priest, caring for faithful people in 81 localities. Then I served 20 years as bishop, initially as bishop of five states in Central Asia with a total area of around four million square kilometers.

In my ministry as a bishop I had contact with Pope Saint John Paul II, with many bishops, priests and faithful in different countries and under different circumstances. I was member of some assemblies of the Synod of Bishops in the Vatican which covered themes such as “Asia” and “The Eucharist”.

Sau đó, trong suốt 30 năm sống tại Kazakhstan, tôi phục vụ 10 năm trong tư cách linh mục, chăm sóc giáo dân cho 81 giáo điểm. Rồi tôi phục vụ 20 năm trong chức giám mục, ban đầu là giám mục của 5 quốc gia vùng Trung Á, với một diện tích tổng cộng khoảng 4 triệu kilômét vuông.

Trong tác vụ giám mục, tôi được tiếp xúc với thánh giáo hoàng Gioan Phaolô đệ Nhị, gặp gỡ nhiều giám mục, linh mục và tín hữu thuộc nhiều xứ sở và trong nhiều hoàn cảnh. Tôi là thành viên của một trong các ủy ban của Thượng Hội Đồng Giám mục tại Vatican, phụ trách các đề tài như “Châu Á “ và “Bí Tích Thánh Thể.”

This experience as well as others give me the basis to express my opinion on the current crisis of the Catholic Church. These are my convictions and they are dictated by my love of the Church and by the desire for her authentic renewal in Christ. I am forced to resort to this public means of expression because I fear that any other method would be greeted by a brick wall of silence and disregard.

Kinh nghiệm này, cũng như các kinh nghiệm khác nữa đã cho tôi cái nền tảng để bày tỏ quan điểm của mình về khủng hoảng hiện tại của Giáo hội Công giáo. Đây là những xác tín của tôi. Tôi có được những xác tín này là vì lòng yêu mến tôi dành cho Giáo hộị và nỗi mong mỏi muốn Giáo hội được canh tân đích thực trong Chúa Kytô. Tôi bị bó buộc phải dùng đến cách thức công khai này để bày tỏ, vì tôi sợ rằng mọi cách nào khác đều đụng phải một bức tường im lặng và không ai thèm đếm xỉa đến.

I am aware of possible reactions to my open letter. But at the same time the voice of my conscience will not allow me to remain silent, while the work of God is being slandered. Jesus Christ founded the Catholic Church and showed us in word and deed how one should fulfill the will of God. The apostles to whom He bestowed authority in the Church, fulfilled with zeal the duty entrusted to them, suffering for the sake of the truth which had to be preached, since they “obeyed God rather than men”.

Tôi biết có thể sẽ có những phản ứng về bức thư ngỏ này của tôi. Nhưng đồng thời tiếng nói lương tâm tôi không cho phép tôi im miệng, trong lúc công trình của Thiên Chúa bị phỉ báng. Chúa Giêsu Kytô đã lập nên Giáo hội Công giáo, và qua lời nói qua hành động, Ngài đã chỉ vẽ cho chúng ta làm sao để hoàn thành Thánh Ý Thiên Chúa. Các Tông đồ mà Ngài đã trao ban thẩm quyền của Giáo hội, đã nhiệt tâm hoàn thành trách nhiệm được trao phó cho mình, và đã phải chịu đau khổ vì sự thật được rao giảng, vì các ngài “thà vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta.”

Unfortunately in our days it is increasingly evident that the Vatican through the Secretariat of State has taken the course of political correctness. Some Nuncios have become propagators of liberalism and modernism. They have acquired expertise in the principle “sub secreto Pontificio”, by which one manipulates and silences the mouths of the bishops. And that what the Nuncio tells them appears as it would be almost certainly the wish of the Pope. With such methods one separates the bishops from one another to the effect that the bishops of a country can no longer speak with one voice in the spirit of Christ and His Church in defending faith and morals. This means that, in order not to fall into disfavour with the Nuncio some bishops accept their recommendations, which are sometimes based on nothing other than on their own words. Instead of zealously spreading the faith, courageously preaching the doctrine of Christ, standing firm in the defense of truth and of morals, the meetings of the Bishops’ Conferences often deal with issues which are foreign to the nature of the duties of the successors of the apostles.

Bất hạnh thay, trong thời buổi chúng ta, càng ngày càng hiển nhiên là Vatican, qua phủ quốc vụ, đã đi theo đường lối đúng đắn xét về phương diện chính trị [1]. Một vài vị khâm sứ đã trở thành người cổ vũ cho chủ nghĩa phóng khoáng và tân thời. Các ngài đã lão luyện trong nguyên tắc “sub secreto pontificio – thuộc bí mật của đức giáo hoàng” Vì nguyên tắc này, người ta sai khiến và áp đặt các giám mục phải im miệng. Và điều đó có nghĩa là những gì vị khâm sứ nói với các giám mục có vẻ như hầu chắc đó là ý của đức giáo hoàng. Theo các cách đó, người ta phân rẽ các giám mục ra khỏi nhau, đến độ các giám mục trong một nước không còn có thể nói chung một tiếng nói theo tinh thần Chúa Kytô hay Giáo hội Người để bảo vệ đức tin và luân lý. Điều này có nghĩa, để khỏi bị thất sủng với vị khâm sứ, một vài giám mục chấp thuận với ý kiến của khâm sứ, đôi khi không dựa trên điều gì khác ngoài lời nói miệng. Thay vì nhiệt thành quảng bá đức tin, can đảm rao truyền giáo lý Chúa Kytô, kiên vững bảo vệ sự thật và luân lý, các cuộc họp của các Hội đồng Giám mục thường chỉ bàn đến những vấn đề xa lạ với bản chất của trách vụ những người kế vị các Tông đồ.

One can observe at all levels of the Church an obvious decrease of the “sacrum”. The “spirit of the world” feeds the shepherds. The sinners give the Church the instructions for how she has to serve them. In their embarrassment the Pastors are silent on the current problems and abandon the sheep while they are feeding themselves. The world is tempted by the devil and opposes the doctrine of Christ. Nevertheless the Pastors are obliged to teach the whole truth about God and men “in season and out”.

Người ta có thể nhận thấy có một sự sa sút rõ rệt về “điều thiêng thánh” trong mọi tầng lớp Giáo hội. “Tinh thần thế tục” đang nuôi sống các mục tử. Người tội lỗi lại đưa ra các chỉ vẽ để Giáo hội biết phải làm sao phục vụ họ. Trong lúc lúng túng, các Mục tử lại im miệng không nói gì về các vấn đề hiện tại, và bỏ mặc cho các con chiên mình ăn gì thì ăn. Thế giới đang bị ma quỷ cám dỗ và chống đối lại giáo lý Chúa Kytô. Dẫu thế, các Mục tử vẫn có bổn phận phải dạy dỗ trọn vẹn sự thật về Thiên Chúa và con người, dù “gặp thời thuận tiện hay không.”

However, during the reign of the last holy Popes one could observe in the Church the greatest disorder concerning the purity of the doctrine and the sacredness of the liturgy, in which Jesus Christ is not paid the visible honour which he is due. In not a few Bishop’s Conferences the best bishops are “persona non grata”. Where are apologists of our days, who would announce to men in a clear and comprehensible manner the threat of the risk of loss of faith and salvation?

Tuy nhiên, trong suốt thời cai trị của các vị giáo hoàng thánh thiện gần đây, người ta có thể thấy rõ Giáo hội đang lâm vào tình trạng rối ren nhất , liên quan đến sự tinh tuyền trong giáo lý và nét thiêng thánh của nền Phụng vụ, trong đó Chúa Giêsu Kytô không nhận được đúng mức vinh quang lẽ ra Ngài phải có. Trong không phải là ít các Hội Đồng Giám mục, các giám mục tốt nhất lại là những “persona non grata – người không được hoan nghênh.” Còn đâu những nhà hộ giáo thời chúng ta, những người công bố cách rõ ràng và dễ hiểu về nguy cơ mất đức tin và mất ơn cứu rỗi cho loài người?

In our days the voice of the majority of the bishops rather resembles the silence of the lambs in the face of furious wolves, the faithful are left like defenseless sheep. Christ was recognized by men as one who spoke and worked, as one, who had power and this power He bestowed upon His apostles. In today’s world the bishops must liberate themselves from all worldly bonds and – after they have done penance – convert to Christ so that strengthened by the Holy Spirit they may announce Christ as the one and only Saviour. Ultimately one must give account to God for all that was done and for all what wasn’t done.

Thời chúng ta hiện nay, tiếng nói đa số các giám mục lại gống sự im lặng của đoàn cừu trước bầy sói hung hăng. Các tín hữu bị bỏ bê như đoàn cừu không ai bảo vệ. Người ta nhận ra Chúa Kytô như một người nói và làm, như một người có quyền năng, và quyền năng ấy, Ngài trối lại cho các Tông đồ của mình. Trong thế giới ngày nay, các giám mục phải giải phóng chính mình thoát khỏi những ràng buộc trần thế, và – sau khi làm việc thống hối – hoán cải trở về với Chúa Kytô, để, sau khi được Chúa Thánh Thần củng cố sức mạnh, các ngài có thể loan báo Chúa Kytô như một Đấng Cứu Chuộc, và Đấng Cứu Chuộc duy nhất. Chung cuộc, ai nấy phải tính sổ với Thiên Chúa về tất cả những gì mình đã làm và tất cả những gì mình đã không làm.

In my opinion the weak voice of many bishops is a consequence of the fact, that in the process of the appointment of new bishops the candidates are insufficiently examined with regard to their doubtless steadfastness and fearlessness in the defense of the faith, with regard to their fidelity to the centuries-old traditions of the Church and their personal piety. In the issue of the appointment of new bishops and even cardinals it is becoming increasingly apparent that sometimes preference is given to those who share a particular ideology or to some groupings which are alien to the Church and which have commissioned the appointment of a particular candidate. Furthermore it appears that sometimes consideration is given also to the favour of the mass media which usually makes a mockery of holy candidates painting a negative picture of them, whereas the candidates who in a lesser degree own the spirit of Christ are praised as open and modern. On the other side the candidates who excel in apostolic zeal, have courage in proclaiming the doctrine of Christ and show love for all that is holy and sacred, are deliberately eliminated.

Theo thiển ý của tôi, tiếng nói yếu đuối của nhiều giám mục là hậu qủa của sự kiện, trong tiến trình tấn phong tân giám mục, các ứng viên đã không được xem xét kỹ lưỡng về tính kiên định không chút nghi ngờ và lòng dũng cảm trong việc bảo vệ đức tin, cùng với lòng trung thành họ dành cho truyền thống hàng ngàn năm của Giáo hội, và lòng đạo đức cá nhân họ. Trong vấn đề bổ nhiệm các tân giám mục và thậm chí các hồng y, càng ngày càng thấy rõ rằng, thỉnh thoảng, sự ưu đãi dành cho những vị nào cùng chia sẻ chung một ý thức hệ, hay cho một vài nhóm xa lạ với Giáo hội, và được ủy nhiệm cho việc bổ nhiệm một ứng viên đặc biệt nào đó. Hơn nữa, có vẻ như đôi khị sự quan tâm được ưu đãi dành cho giới truyền thông đại chúng, Giới này thường chê bai chế diễu các ứng viên thánh thiện bằng cách vẽ nên một bức tranh tiêu cực về họ, trong khi những ứng viên ít thấm nhuần tinh thần Chúa Kytô hơn lại được ca tụng là cởi mở và tân thời. Mặt khác, các ứng viên trổi vượt về lòng nhiệt thành tông đồ, can đảm trong việc công bố giáo lý Chúa Kytô và bày tỏ lòng yêu mến những gì là thánh thiện và thiêng thánh, bị loại bỏ cách cố ý.

A Nuncio once told me: “It’s a pity that the Pope [John Paul II] does not participate personally in the appointment of the bishops. The Pope tried to change something in the Roman Curia, however he has not succeeded. He becomes older and things resume their usual former course”.

At the beginning of the pontificate of Pope Benedict XVI, I wrote a letter to him in which I begged him to appoint holy bishops. I reported to him the story of a German layman who in the face of the degradation of the Church in his country after the Second Vatican Council, remained faithful to Christ and gathered young people for adoration and prayer. This man had been close to death and when he learned about the election of the new Pope he said: “When Pope Benedict will use his pontificate solely for the purpose to appoint worthy, good and faithful bishops, he will have fulfilled his task”.

Một vị khâm sứ đã cho tôi biết: “Thật đáng tiếc đức giáo hoàng [Gioan Phaolô đệ Nhị] đã không đích thân can dự vào việc bổ nhiệm các giám mục. Đức giáo hoàng cố gắng thay đổi chút nào đó trong Giáo triều Rôma, nhưng ngài không thành công. Ngài càng ngày càng già đi, và mọi chuyện lại đâu vào đấy.”

Vào đầu giáo triều của đức giáo hoàng Biển Đức XVI, tôi đã viết một bức thư cho ngài, trong đó tôi xin ngài hãy bổ nhiệm các giám mục thánh thiện. Tôi kể cho ngài nghe câu chuyện của một giáo dân người Đức, khi đối diện với sự sa sút của Giáo hội tại nước mình sau Công Đồng Vaticanô đệ Nhị, ông vẫn trung thành với Chúa Kytô, và tập họp các người trẻ lại để thờ phượng cầu nguyện. Người này đã bị bỏ tù cho đến chết, và khi ông nghe tin có cuộc bầu giáo hoàng mới, ông nói: “Khi đức giáo hoàng Biển Đức dùng giáo triều của minh chỉ để nhắm đến một mục đích, là bổ nhiệm các gián mục xứng đáng, tốt lành, và tín trung, ngài đã hoàn thành sứ mạng của mình.”

Unfortunately, it is obvious that, Pope Benedict XVI has often not succeeded in this issue. It is difficult to believe that Pope Benedict XVI freely renounced his ministry as successor of Peter. Pope Benedict XVI was the head of the Church, his entourage however has barely translated his teachings into life, bypassed them often in silence or has rather obstructed his initiatives for an authentic reform of the Church, of the liturgy, of the manner to administer Holy Communion. In view of a great secrecy in the Vatican for many bishops it was realistically impossible to help the Pope in his duty as head and governor of the whole Church.

Tiếc thay, rõ ràng đức giáo hoàng Biển Đức XVI đã thường không thành công trong vấn đề này. Thật khó mà tin rằng đức giáo hoàng Biển Đức đã từ nhiệm trong tự do tác vụ kế vị thánh Phêrô. Đức giáo hoàng Biển Đức đứng đầu Giáo hội, tuy nhiên các phụ tá thân cận của ngài gần như không sống các giáo huấn của Ngài, im lặng bỏ qua, hay lại còn ngăn trở các sáng kiến cải tổ chân chính cho Giáo hội, về phương diện phụng vụ, về cách cho Rước Lễ. Xét vì có một màn bí mật lớn trong Vatican, nên đối với nhiều giám mục, quả tình hầu như không thể giúp đức giáo hoàng trong nhiệm vụ lãnh đạo và điều hành toàn thể Giáo hội.

It will not be superfluous to remind my brothers in the episcopacy of an affirmation made by an Italian masonic lodge from the year 1820: “Our work is a work of a hundred years. Let us leave the elder people and let us go to the youth. The seminarians will become priests with our liberal ideas. We shall not flatter ourselves with false hopes. We will not make the Pope a Freemason. However liberal bishops, who will work in the entourage of the Pope, will propose to him in the task of governing the Church such thoughts and ideas which are advantageous for us and the Pope will implement them into life”. This intention of the Freemasons is being implemented more and more openly, not only thanks to the declared enemies of the Church but with the connivance of false witnesses who occupy some high hierarchical office in the Church. It is not without reason that Blessed Paul VI said: “The spirit of Satan penetrated through a crack inside the Church”. I think that this crack has become in our days quite wide and the devil uses all forces in order to subvert the Church of Christ. To avoid this, it is necessary to return to the precise and clear proclamation of the Gospel on all levels of ecclesiastical ministry, for the Church possesses all power and grace which Christ gave to her: “All power is given unto me in heaven and in earth. Go therefore, and teach all nations. Teaching them to observe all things whatsoever I have commanded you: and I am with you always unto the end of the world” (Mt 28, 18-20), “the truth will set you free” (John 8, 32) and “let your word be Yes, yes; No, no: for whatsoever is more than these comes of evil” (Mt 5, 37). The Church cannot adapt herself to the spirit of this world, but must transform the world to the spirit of Christ.

Cũng không phải là điều dư thừa khi nhắc lại cho các anh em trong giám mục đoàn của tôi về một khẳng định của một hội quán tam điểm ở Ý nói ra từ năm 1820:
“Công việc của chúng ta là công việc hàng trăm năm. Chúng ta đừng thèm để ý đến người già, mà hãy chăm chú đến giới trẻ. Các chủng sinh sẽ trở thành các linh mục mang những ý tưởng phóng khoáng của chúng ta. Chúng ta không tự hãnh diện vì có các nguỵ giáo hoàng. Chúng ta sẽ không biến một giáo hoàng thành người Tam điểm. Tuy nhiên các giám mục phóng khoáng, làm việc chung quanh đức giáo hoàng, sẽ đề nghị lên cho ngài trong công tác điều hành Giáo hội những ý nghĩ và những tư tưởng thuận lợi cho chúng ta, và đức giáo hoàng sẽ đem chúng vào cuộc sống.”
Chủ đích này của người Tam điểm đang được thực hiện càng ngày càng lộ liễu, không chỉ vì các kẻ thù đã xưng danh của Giáo hội, mà còn do sự đồng loã của các nguỵ nhân chứng đang giữ một vài điạ vị trọng yếu trong hàng giáo phẩm cao cấp Giáo hội. Không phải là không có ly do khi chân phước Phaolô đệ Lục đã nói: “Tinh thần của Satan đã xâm nhập vào trong Giáo hội qua một kẽ hở.” Tôi nghĩ rằng ngày nay khe hở ấy đã nứt to toang hoác, và ma quỷ đã vận dụng hết sức mạnh để khuynh đảo Giáo Hội Chúa Kytô. Để tránh điều này, cần phải trở về với việc Rao Giảng Tin Mừng chính xác và rõ ràng ở mọi cấp thừa tác vụ trong Giáo hội, vì Giáo hội sở hữu mọi sức mạnh và ân sủng Chúa Kytô đã ban cho mình: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta. Vậy các con hãy đi và giảng dạy muôn dân. Dạy họ phải tuân giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con: Và Ta ở cùng các con luôn mãi cho đến tận thế.” (Mt 28,18-20), “Sự thật sẽ giải phóng các con.” (Ga 8,32) và lời các con “có thì nói có, không thì nói không., Kỳ dư điều gì thêm vào đều đến từ ma quỷ.” ( Mt 5, 37) Giáo hội không thể thích nghi với tinh thần thế gian này, mà phải biến đổi thế giới theo tinh thần Chúa Kytô.

It is obvious that in the Vatican there is a tendency to give in more and more to the noise of the mass media. It is not infrequent that in the name of an incomprehensible quiet and calm the best sons and servants are sacrificed in order to appease the mass media. The enemies of the Church however don’t hand over their faithful servants even when their actions are evidently bad.

Rõ ràng tại Vatican, có một chiều hướng càng ngày càng nhượng bộ theo tiếng ầm ĩ của truyền thông đại chúng. Cũng không phải là điều hiếm hoi khi nhân danh một sự im lặng và yên ổn, mà những con cái và tôi tớ ưu tú của giáo hội, bị hy sinh để xoa dịu giới truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, các kẻ thù của Giáo hội không bao giờ trao nộp các tôi tớ trung thành của mình, cả khi hành động của họ rõ ràng là gian ác.

When we wish to remain faithful to Christ in word and deed, He Himself will find the means to transform the hearts and souls of men and the world as well will be changed at the appropriate time.

Khi chúng ta muốn bền gan trung thành với Chúa Kytô trong lời nói cũng như việc làm, chính Ngài sẽ tìm cách để biến đổi trái tim và linh hồn người ta, và thế giới rồi cũng sẽ thay đổi theo đúng vào thời điểm thích hợp.

In times of the crisis of the Church God has often used for her true renewal the sacrifices, the tears and the prayers of those children and servants of the Church who in the eyes of the world and of the ecclesiastical bureaucracy were considered insignificant or were persecuted and marginalized because of their fidelity to Christ. I believe that in our difficult time this law of Christ is being realized and that the Church will renew herself thanks to the faithful inner renewal of each of us.

January 1st 2015, Solemnity of the Blessed Virgin Mary, Mother of God

+ Jan Pawel Lenga

Vào những thời điểm Giáo hội gặp khủng hoảng, Thiên Chúa thường dùng những hy sinh, nước mắt và kinh nguyện của con cái và các tôi tớ trong Giáo hội để có được sự canh tân đích thực về chính mình. Họ là những người, dưới con mắt thế gian, và bộ máy quan chức trong Giáo hội, bị coi là chẳng đáng gì, bị bách hại và bị loại ra rià vì họ trung thành với Chúa Kytô. Tôi tin rằng trong thời buổi khó khăn của chúng ta đây, người ta sẽ ý thức được quy luật này của Chúa Kytô, và Giáo hội sẽ tự canh tân nhờ những canh tân cách thành tín của mỗi chúng ta.

Ngày mồng Một tháng Giêng năm 2015. Lễ Trọng, kính Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, Mẹ Thiên Chúa

+ JanPawel Lenga.

Một bức thư mang đầy tâm tình “sentire cum Ecclesia – cảm thông với Giáo hội” của một người con hiếu thảo, có lòng với Giáo hội Mẹ. Bức thư khiến chúng ta xấu hổ vì lời lẽ chân thành trong thư khiến chúng ta phải xét mình và đấm ngực.
——
Chú thích của người dịch
[1] politically correct = đúng đắn xét theo phương diện chính trị, còn thường dùng dưới dạng phủ định, politically incorrect, là một thành ngữ tính từ ám chỉ một thái độ hay một phát ngôn, hoặc hành vi chính trị được suy tính, được cân nhắc để không làm mất lòng nhóm thiểu số nào.

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 5)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/07/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang_30.html

Nhà cháu định tản mạn tiếp theo dòng suy nghĩ, nhưng ngay sáng nay, có tin động trời xảy ra :

Vào ngày hôm qua, ngày 19 tháng Hai, 2015, tờ Catholic Herald , bên Anh, đăng bài phỏng vấn đức hồng y Bertone.

Đọc nguyên văn tại đây:

http://www.catholicherald.co.uk/news/2015/02/19/cardinal-bertone-i-knew-of-benedicts-plan-to-resign-seven-months-in-advance/

Ngay trong đầu bài có đoạn sau, xin trích nguyên văn:

Cardinal Tarcisio Bertone, former Vatican Secretary of State, has said he knew Benedict XVI was planning to resign “at least seven months” in advance – and that it was “not at all easy” to keep it a secret.

Asked if he was surprised by Benedict XVI’s resignation, the cardinal said: “I had guessed it, but put it out my thoughts. I knew long in advance, at least seven months before. And I had many doubts. We debated the topic at length after it seemed already decided. I told him: Holy Father, you must bestow upon us the third volume on Jesus of Nazareth and the encyclical of faith, before you sign things over to Pope Francis.”

The cardinal added that it was “not at all easy to keep this secret. The pope meditated and reflected deeply with God about this choice.”

Hồng y Tarcisio Bertone, cựu quốc vụ khanh, đã tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn, rằng ngài đã biết đức Bển Đức XVI có dự tính từ nhiệm từ “ít nhất bẩy tháng trước” – và rằng “thật không dễ gì” mà giữ kín một bí mật.

Được hỏi, nghài có ngạc nhiên về việc từ nhiệm của đức Biển Đức XVI, hồng y trả lời: “Tôi đã đoán ra được, nhưng chỉ trong ý nghĩ thôi, Tôi đã biết từ lâu trước, ít là từ bẩy tháng trước, Và tôi đã có nhiều mối nghi ngờ. Chúng tôi đã bàn bạc về đề tài này rất lâu, sau khi nó đã được quyết định. Tôi đã nói với ngài: “Thưa đức thánh cha, Ngài phải để lai cho chúng con cuốn sách thứ ba về Chúa Giêu Người Nazarteth, và một thông điệp về đức tin, trước khi ngài trao lại cho đức giáo hoàng Phanxicô.”

Nhà cháu để dành cho người đọc rút ra kết luận cho riêng mình.

Phần nhà cháu, xin có những ý mọn như sau:
Hẳn đây phải là một trò đuà, hay một lầm lẫn của tác giả hay tờ báo. Còn không chúng ta nghĩ thế nào khi hồng y Bertone không những biết trước việc đức Biển Đức sẽ từ nhiệm trước những bẩy tháng, mà còn biết trước tên đức giao hoàng tương lai sẽ chọn: Phanxicô ?

Câu này không thể nói sau khi đã bầu đức giáo hoàng, vì lúc này, đức Biển Đức đã từ nhiệm.
Mà cũng không thể nói trước khi bầu giáo hoàng, vì lúc đó vị tân giáo hoàng chưa được chọn, và chưa lấy tên “Phanxicô.”

Như vậy nếu quả đúng như mặt chữ câu trích dẫn, chúng ta phải kết luận rằng: nhiều tháng trước khi đức Phanxicô được bầu lên, đức Biển Đức và hồng y quốc vụ khanh Bertone, đã biết trước ai sẽ được bầu lên và sẽ lấy tên Phanxicô !

Lại câu hỏi: Ai là người đứng phía sau mọi sự này ?

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 6)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/08/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang.html

Nói cho ngay, ảnh hưởng của đức Biển Đức rất lớn về phương diện thần học và tín lý, nên việc ngài từ nhiệm hẳn là một tiếng sấm động giữa trời thanh.

Biến cố bất ngờ, nên nhiều người không muốn cho đó là sự thật. Hoặc giả, nếu đành phải chấp nhận sự thật này, lại phải tìm cho ra lý do tiềm ẩn phía sau, chứ không đành chấp nhận cách đơn giản lý do sức khoẻ được đưa ra.

Nhìn lại khung cảnh Giáo hội bây giờ, thế giới trần tục tiếp tục thách thức không chỉ giáo lý và đức tin Kytô giáo mà còn thách thức chính bản thân Giáo hội. Thế giới kình chống ra mặt và gay gắt tấn công vào chính cốt lõi của Kytô giáo.

Và Giáo hội phải rút về vị trí thủ thế, vừa phải bảo vệ các chân lý của mình khỏi bị cắt nghĩa sai lạc, vừa phải công bố các sự thật ấy cho thế giới đang ra mặt chống lại.

Muốn thành công trong công tác ấy, Giáo hội phải hiệp nhất bên trong, và các quy luật phải được tuân giữ.

Nhưng Giáo hội lại thất bại trong cả hai mặt trận đó.

Trong nhiều quốc gia, tiếng nói, lời rao giảng của Giáo hội không còn được lắng nghe. Và khủng hoảng của Giáo hội lại hiện ra rõ nét qua vụ bê bối về tình dục của giới giáo sĩ.

Thảm trạng ấy của Giáo hội, có lẽ đã gây ra ức ép nặng nề lên trên bản thân đức Biển Đức XVI.

Ngài muốn Giáo hội là một ngọn hải đăng soi sáng cho nhân loại, đem cho nhân loại chân lý, một nhân loại đang bị nhiễm nặng bệnh ích kỷ và duy tương đối.

Ngài còn muốn Giáo hội là người bảo vệ cho nhân loại.

Nhưng ngài chỉ thấy một Giáo hội đang đánh mất lòng tín nhiệm của thế giới về phương diện luân lý, vì vụ bê bối của các giáo sĩ.

Ngoài gánh nặng của tuổi tác, ngài lại phải đối diện với một giáo triều mà ngài vô phương cải tổ. Chung quanh đã không có ai cộng tác vào việc này, lại còn có nhóm tranh dành quyền lực, những bê bối về đồng tính, và cả về tài chính.

Chúng ta thử mạo muội đặt mình vào vị trí của ngài.

Vào đầu thập niên 70’s, trong số tên tuổi các thần gia nổi bật của Giáo hội lúc bấy giờ . như Hans Urs von Balthasar, Henri de Lubac, Walter Kasper, Marc Ouellet, Louis Bouyer của tờ báo Communio, còn có Johann Baptist Metz, Anton van den Boogaard, Paul Brand, Marie-Dominique Chenu, Yves Congar, Karl Rahner, Edward Schillebeeckx, và Hans Küng của tờ báo Concilium, chúng ta đã gặp tên tuôi của đức Joseph Ratzinger.

Là một thần học gia lỗi lạc, rồi giám mục, bộ trưởng, và cuối cùng một giáo hoàng, ngài đã tạo được một ảnh hưởng rất lớn trên đường lối của Giáo hội trong lãnh vực đức tin và luân lý suốt gần 50 năm qua, cả về phương diện tổ chức và qua việc bổ nhiệm các giám mục.

Vào cuối thời giáo hoàng, hẳn ngài nhận ra mọi việc không ổn như ngài đã từng muốn thế. Hoài bão muốn cho Giáo hội xiển dương chân lý và nâng cao mức luân lý, để chấn chỉnh một thế giới quá ích kỷ và duy tương đối, chỉ mang đến kết quả là một Giáo hội sụp đổ từ bên trong về phương diện luân lý.

Giáo hội mất đi lòng tín nhiệm của thế giới. Thay vì là một cơ cấu thần thiêng, Giáo hội bây giờ chỉ mang vẻ một tổ chức trần tục, quá nhân loại. Khó mà biện minh rằng không phải Giáo hội tội lỗi, mà chỉ là các thành phần của Giáo hội mang tội mà thôi, khiến cho tình trạng Giáo hôi phải ra như bây giờ.

Đó hẳn là thách thức và cũng là chính cái thử thách của đức Biển Đức XVI.

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 7)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/08/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang_19.html

Nhiều người còn mạnh miệng hơn, táo bạo hơn, đưa ra nhiều nhận xét còn cặn kẽ hơn, với đức Biển Đức XVI .

Nhất là từ khi đức Phanxicô, khi hào quang ban đầu tan dần, sau nhiều lần tuyên bố những câu “off the cuff – ứng khẩu, không soạn trước ,“ khiến nhiều người bây giờ bắt đầu dướng mày, tự hỏi không hiểu có vị nào soạn diễn văn cho ngài hay không ?

Đến độ đã có người bắt đầu đặt câu hỏi, thậm chí đưa ra kiến nghị, xin đức Phanxicô nói lên Giáo Lý cổ truyền của Giáo hội Công giáo!

Bây giờ nhà cháu mời nghe ý kiến sau đây của Jose Villasana Alberto Munguia.

Nhà cháu dịch từ trang blog của ông:

http://www.ultimostiempos.org/7-noticias/171-antipapa

José Villasana Alberto Munguia vốn là một nhà văn, nhà phân tích chính tri, kinh tế và tôn giáo.

Ông học thần học tại đại học Gregoriana, học triết tại đại học Angelicum, học Nhân văn Cổ điển tại đại học CES Salamanca, Tây Ban Nha, và ngành Truyền thông tại ITAM

¿Đức Phanxicô là môt phản-giáo hoàng?

Crece entre obispos y cardenales la opinión de que Bergoglio no es Papa, debido a irregularidades en el proceso de renuncia-sucesión.
Se aducen cuatro causas de nulidad canónica: 1) la resignación de Benedicto XVI no fue válida, al haber sido hecha bajo la presión de dos amenazas, de cisma y de vida; 2) Cuatro cardenales hicieron trabajo de cabildeo a favor de Bergoglio, lo cual está explícitamente prohibido por la Constitución que norma la sucesión pontificia; 3) Durante el Cónclave de 2013 se cometieron dos irregularidades muy graves que hacen inválida la elección de Francisco.
El Cardenal George Pell insinuó que Francisco bien podría no ser el Papa 266 como todos creen, sino el antipapa 38 en la historia de la Iglesia.

Đang có một quan điểm càng ngày càng lớn dần trong hàng giám mục và hồng y cho rằng đức Bergoglio không phải là giáo hoàng, vì có những bất thường trong tiến trình từ nhiệm và kế nhiệm .
Các ngài lý luận rằng có bốn lý do gây nên vô hiệu về phương diện giáo luật : 1 ) việc từ nhiệm của đức Biển Đức XVI là vô hiệu lực, vì xảy ra dưới sức ép của hai đe dọa, đe doạ về ly giáo, và đe doạ đến tính mạng; 2) Có bốn vị hồng y đã “vận động hành lang” cho đức Bergoglio. Đây là môt việc đã minh nhiên bị cấm theo Hiến chế quy định việc bầu giáo hoàng ; 3) Trong cuộc Mật Nghị bầu giáo hoàng năm 2013, có hai điều bất thường rất nghiêm trọng khiến cho việc bầu đức Phanxicô trở thành vô hiệu.
Hồng y George Pell đã có hàm ý rằng đức Phanxicô có thể không là vị giáo hoàng thứ 266 như mọi người tưởng, nhưng là vị phản-giáo-hoàng thứ 38 trong lịch sử Giáo Hội.

Tres bombas han explotado dentro de la Iglesia Católica. Se trata de testimonios que documentan por qué Bergoglio pudiera en realidad no ser verdaderamente Papa.

Una de ellas fue la publicación de L´Avennire, el periódico de los obispos italianos que, en su gaceta del 7 de enero de 2015 reveló que Benedicto XVI fue objeto de una traición y de una conjura, mediante las cuales lo coaccionaron para dimitir. En la página 2, sección editorial a cargo del director Marco Tarquinio, se lee: “hubieron ambientes que por motivos de poder y hostigamiento, traicionaron y complotaron para eliminar al Papa Ratzinger, y lo obligaron a renunciar”.

Ba quả bom đã bùng nổ trong Giáo hội Công giáo, Sau đây là những chứng cớ thu thập được minh chứng cho thấy thật ra, có thể đức Bergoglio không phải là giáo hoàng thực thụ.

Một quả bom là ấn bản của tờ L’Avennire, tờ báo của các giám mục Ý, số ra ngày 7 tháng Giêng năm 2015, co hé tin cho biết đức Biển Đức đã là nạn nhân của một vụ phản bội và một âm mưu, qua đó ngài bị ép buộc phải từ nhiệm. Ở trang hai, phần lời toà soạn, giám đốc Marco Tarquinio phụ trách, người ta đọc được rằng: “có chỗ cho những nguyên do về quyền lực và áp bức, phản bôi và âm mưu giết đức giáo hoàng Ratzinger, và ép buộc ngài phải từ nhiệm.”
Ya el jesuita Arnaldo Zenteno, en el número 3 de su “Informe”, había revelado que cuando el recién electo Francisco fue a Castel Gandolfo para visitar a Benedicto XVI, este último le confió que una de las causas que influyeron en su renuncia fue constatar las amenazas que recibió, pues ya se había tomado la decisión de matarlo. Fue por esto que, en una jugada para neutralizar el atentado, hizo pública su renuncia y así desarmó el intento de homicidio. Eso ya hace que una elección no sea “libre”.

Khi linh mục Arnaldo Zenteno S.J., nhân vật số 3 của tờ “Thông tin” cho biết rằng lúc vị giáo hoàng tân cử Phanxicô đến Castel Gandolfo để thăm đức Biển Đức XVI, đức Biển đức đã thố lộ rằng một trong những lý do đã ảnh hưởng đến việc ngài từ nhiệm là để tìm ra những đe doạ mà ngài đã nhận được, vì mối đe doạ ấy đã quyết định giết ngài., Chính vì thế trong một động thái nhằm để triệt tiêu cuộc tấn công, ngài đã tuyên bố công khai ngài từ nhiệm, như thế là hoá giải ý định giết ngài. Chính việc này đã khiến cho việc bầu cử không còn tự do nữa.

Pero más grave que la amenaza de muerte (pues Ratzinger nunca ha temido dar la vida por Cristo), fue la amenaza de un cisma, por la que le hicieron saber que tenían una lista con firmas de sacerdotes, religiosos, obispos y cardenales modernistas prontos a constituir una nueva Iglesia separada de Roma si él no aceptaba sus exigencias.

Desde el punto de vista estratégico humano, el movimiento de Benedicto XVI de renunciar fue magistral, a la vez de inesperado, pues haciéndose a un lado desinfló la amenaza que se cernía sobre la Iglesia. Y, de paso, sobre su persona.

Nhưng nghiêm trọng hơn mối đe doạ sát nhân ( vì đức Ratzinger không bao giờ ngại hy sinh cuộc sống vì Chúa Kytô), còn có mối đe doạ ly giáo. Về mối đe doạ này này, ngài biết đã có một danh sách các chữ ký của các linh mục, tu sĩ, giám mục, và những hồng y thuộc phái Tân thời đã sẵn sàng để thành lập một giáo hội mới, tách ly khỏi Roma., nếu ngài không chấp nhận các yêu cầu của họ.

Đứng về phương diện chiến thuật nhân loại mà xét, việc đức Biển Đức XVI từ nhiệm là một động thái bậc thầy, mặc dù bất ngờ, vì bước sang một bên, khiến hoá giải được đe doạ nhắm vào Giáo hội. Và dĩ nhiên, cả mối đe doạ nhắm vào bản thân ngài.

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 8)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/08/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang_22.html

El problema está en que, al haber renunciado en parte por esa presión (declaró en su discurso de anuncio no tener la edad y las fuerzas para enfrentar algo “grave”de la Iglesia), su decisión no fue del todo libre, por lo que canónicamente el acto es nulo por inexistencia. Ciertamente él dijo que renunciaba “libremente”, sin duda con el objeto de no causar un escandaloso terremoto en la Iglesia, y tal vez porque quiso autoconvencerse de su “libertad”, pero la resolución que adoptó está viciada in radice(desde su raíz) por esa violencia moral, lo cual anula la validez del hecho. Cualquier canonista conoce esto a la perfección.

Además, existen sobrados indicios de que Benedicto XVI era consciente de que, a pesar de ese movimiento magistral, seguiría siendo el Vicario de Cristo, y que solo estaba renunciando a los cargos administrativos del papado.

Vấn đề là, sau khi từ nhiệm một phần vì ép buộc (ngài đã tuyên bố trong diễn văn thông báo là ngài không còn tuổi và không còn sức mạnh để đối phó với vấn đề “nghiêm trọng” của Giáo hội) , quyết định của ngài không hoàn toàn tự do, nghĩa là theo giáo luật, hành vi ấy vô giá trị vì không hiện hữu. Chắc chắn ngài nói ngài từ nhiệm trong “hoàn toàn tự do,” hầu không gây nên một chấn động nào trong Giáo hội, và bởi vì ngài muốn thuyết phục chính mình về sự “tự do” của mình. Nhưng cái quyết định ấy đã được thực hiện sai “in radice- từ gốc”, vì có ép buộc về phần luân lý, khiến vô hiệu hoá giá trị của hành vi ấy. Bất cứ nhà giáo luật nào cũng biết rõ điều này.

Ngoài ra, còn có những dấu chỉ cho thấy đức Biển Đức XVI đã cảnh giác được rằng., bất chấp động thái bậc thầy này, ngài vẫn còn là vị đại diện Chúa Kytô, và ngài chỉ từ nhiệm vai trò điều hành của ngôi giáo hoàng mà thôi.

En su discurso de despedida de la curia, el 27 de febrero, el día anterior a tomar el helicóptero y retirarse temporalmente a Castel Gandolfo, habló de la vocación que recibió de Dios al haber sido electo Papa el 19 de abril de 2005. Allí dijo (párrafo 23) que el llamado que recibió de Cristo es ad vitam, y que nunca podrá renunciar a él (como siempre lo entendieron todos los Papas en la historia de la Iglesia): “El “siempre” es también un para siempre–no hay más un retorno a lo privado”, dijo claramente.

Además, estableció ante los órganos jurídicos de la Iglesia que él conservaría la sotana blanca, mantendría el apelativo “Su Santidad”, conservaría las llaves de Pedro en su escudo, y seguiría siendo Papa, añadiendo simplemente el apelativo “emérito”. Esto es muy significativo pues, cuando el Papa Gregorio XII renunció, volvió a ser cardenal, y cuando el Papa Celestino V renunció, volvió a ser monje religioso. No lo decidió así Benedicto XVI.

Trong diễn văn từ giã, ngỏ lời với Giáo triều, vào ngày 27 tháng Hai, ngày trước hôm lên máy bay trực thăng, tạm thời hưu trí tại Castel Gandolfo., ngài nói về ơn gọi ngài nhận được từ Thiên Chúa, sau khi được chọn lên ngôi giáo hoàng ngày 19 tháng Tư năm 2005. Lúc ấy, ngài đã nói (trong đoạn 23) rằng ơn gọi ngài nhận được từ Thiên Chúa là ơn gọi ad vitam (suốt đời), và không bao giờ có thể từ bỏ ( như mọi vị giáo hoàng đều hiểu như thế trong suốt dòng lịch sử Giáo hội): Chữ “luôn luôn” cũng là “mãi mãi” – không còn có chuyện trở về với cuộc sống riêng tư,” ngài đã nói rõ ràng mạch lạc như thế

Cũng đã được ấn định trước các cơ quan luật pháp của Giáo hội, rằng ngài sẽ vẫn mặc áo trắng, giữ danh xưng “His Holiness – đức Giáo hoàng,” vẫn giữ hình chìa khoá trên áo choàng, và cũng vẫn là đức giáo hoàng. Chỉ có điều thêm chữ “emeritus – về hưu” để gọi. Điều này hẳn có ý. Vì khi đức Grêgoriô XII từ nhiệm, ngài trở lại danh phận hồng y. Khi đức giáo hoàng Celestinô từ nhiệm, ngài trở về lại danh phận thầy dòng. Không có quyết định nào như đức Biển Đức XVI

La segunda bomba, hablando cronológicamente según sucedieron los hechos, no según fueron publicados, es el libro “El Gran Reformador” de Austen Ivereigh, que revela cómo un grupo de cuatro cardenales liberales (Walter Kasper, Karl Lehmann, Godfried Danneels y Cormac Murphy-O´Connor) se asociaron para orquestar ilícitamente una campaña a favor de la elección de Bergoglio, después de que éste último aceptó ser el beneficiario de esa confabulación. Cabe mencionar que Ivereigh es gran admirador de Francisco, y que e incluso acudió al Vaticano para entregarle personalmente un ejemplar de su libro, sin pensar que en el capítulo 9 “El Cónclave”, en el que narra cómo el grupo de cardenales que denomina el “Team Bergoglio”, hicieron una campaña de cabildeo ilegítima para allanar el camino al candidato argentino, la cual compromete la legitimidad de la elección.

Quả bom thứ hai, gọi theo thứ tự sự kiện xảy ra trong thời gian, chứ không theo thời điểm xuất bản, là cuốn sách “The Great Reformer ” của Austen Ivereigh, tiết lộ việc một nhóm bốn hồng y có khuynh hướng phóng khoáng (là các vị Walter Kasper, Karl Lehmann, Godfried Danneels và Cormac Murphy O’Connor ) đã liên kết với nhau để điều phối một chiến dịch nhằm bầu lên đức Bergoglio, sau khi vị này đồng ý chấp nhận làm người thụ hưởng kế hoạch ấy.

Cần phải ghi nhận rằng Ivereigh rất ngưỡng mộ đức Phanxicô, thậm chí đã từng đến Vatican để đích thân trao tay một bản in cuốn sách của ông, lại không nghĩ ra được rằng trong chương 9, “The Caucus – Mật Nghị”, khi kể lại nhóm các hồng y, được gọi là “Team Bergoglio” đã thực hiện một cuộc vận động bất hợp pháp để lót đường cho ứng viên người Achentina, điều này đã gây thiệt hại cho tính hợp lệ của cuộc bầu giáo hoàng

Nhà cháu ngưng bản dịch ở đây để tản mạn tiếp

Trước hết xin xem thêm chi tiết về cuốn sách của Ivereigh ở các trang sau đây:

http://www.novusordowatch.org/wire/the-great-reformer.htm
The Great Reformer: Francis and the Making of a Radical Pope by Austen Ivereigh, Review: ‘invaluable’ (The Telegraph)
Book review: ‘The Great Reformer,’ Pope Francis, by Austen Ivereigh(Washington Post)
Pope Francis: a new biography that reveals the Pontiff’s quirky side(Catholic Herald)
Unraveling the ‘Francis Enigma’ (National Catholic Register)
Shaping a Shepherd of Catholics, From Argentine Slums to the Vatican(New York Times)
Reformer and Radical: A Life of Pope Francis (America / Podcast)
Interview with Austen Ivereigh on The Great Reformer (Relevant Radio / Podcast)
Is Francis a “Radical Pope”? (FOX News / Video)
Antony Bushfield interviews Austen Ivereigh (Premier)
Ivereigh publishes biography on Pope Francis with facts on his time as the Jesuit Provincial (Rome Reports)

Ivereigh đã viết như sau, trích nguyên văn:

“They [Kasper, Lehmann, Danneels, Murphy-O’Connor] first secured Bergoglio’s assent. Asked if he was willing, he said that he believed that at this time of crisis for the Church no cardinal could refuse if asked. (Murphy-O’Connor knowingly warned him to “be careful,” that it was his turn now, and was told: capisco, “I understand.”) Then they got to work, touring the cardinals’ dinners to promote their man, arguing that his age— seventy-six— should no longer be considered an obstacle, given that popes could resign.”

“Trước tiên các vị ấy [Kasper, Lehmann, Danneels, Murphy-O’Connor] muốn chắc chắn có được sự đồng thuận của Bergoglio. Khi được hỏi có đồng ý không, ngài nói ngài tin rằng trong thời buổi khủng hoảng này của Giáo hội, không vị hồng y nào từ chối nếu được hỏi ý. ( Murphy-O’Connor đã chủ tâm cảnh báo ngài “phải cẩn thận,” rằng bây giờ đã đến lượt của ngài, và được trả lời rằng: capisco, “Tôi hiểu.”) Rồi các vị ấy bắt đầu hành động, đi đến các hồng y trong giờ ăn để vận động cho người của mình, lập luận rằng tuổi của ngài – bẩy mươi sáu – không còn được coi là một chướng ngại, vì rằng các giáo hoàng có thể từ nhiệm.”

Austen Ivereigh, The Great Reformer: Francis and the Making of a Radical Pope(Henry Holt and Co.: Kindle Edition), locs. 6899-6903; xem trang 355 bản in.)
Tờ Telegraph bên Anh đã đăng câu chuyện vào ngày 23 tháng Mười Một năm 2014, tại link sau đây:
Pope Francis: how cardinals’ Conclave lobbying campaign paved way for Argentine pontiff

(http://www.telegraph.co.uk/news/religion/11248263/English-cardinal-Cormac-Murphy-OConnor-lobbied-for-Pope.html)

Ivereigh không hề kém cỏi trong việc tìm kiếm tài liệu, cũng chẳng phải là một tay viết tuỳ tiện, lại không phải là một người căm ghét đức Phanxicô, nên vì những lẽ đó, điều ông viết về những vận động trước cuộc mật nghị và về sự đồng tình của của đức Bergoglio phải được xem xét cách nghiêm túc. Mà quả Vatican đã nghiêm túc làm việc ấy. Vatican đã phải vội vã đính chính để hóa giải điều tiết lộ động trời này của Ivereigh.

Vậy vấn đề nằm ở chổ nào?

Tông huấn “Universi Dominici Gregis” đức Gioan Phaolô đệ Nhị ban hành ngày 22 tháng Hai năm 1996, ấn định lề lối bầu giáo hoàng, đã nói rõ hồng y nào cổ đông cho chính mình hay cổ động người khác bầu cho một ứng viên đặc biệt nào, sẽ lập tức mắc vạ tuyệt thông tiền kết, latae sententiae !

Xem nguyên văn tại:

http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/apost_constitutions/documents/hf_jp-ii_apc_22021996_universi-dominici-gregis.html

Sau đây là trích dẫn số 81, liên quan đến vấn đề đang bàn:

The Cardinal electors shall further abstain from any form of pact, agreement, promise or other commitment of any kind which could oblige them to give or deny their vote to a person or persons. If this were in fact done, even under oath, I decree that such a commitment shall be null and void and that no one shall be bound to observe it; and I hereby impose the penalty of excommunication latae sententiae upon those who violate this prohibition. It is not my intention however to forbid, during the period in which the See is vacant, the exchange of views concerning the election.

Các hồng y cử tri phải tránh hơn nữa mọi hình thức phe cánh, giao kèo, hứa hẹn hay bất cứ công tác nào khác buộc họ phải bầu hay không bầu cho một hay nhiều người nào. Nếu việc này thực sự đã xảy ra, dù đã có lời thề, Ta ấn định thành luật rằng một công tác như thế sẽ vô hiệu và không có giá trị, và không nai bị bó buộc phải tuân theo và vì thế Ta áp đặt hình phạt vạ tuyệt thông tiền kết latae sentantiae trên những ai vi phạm luật cấm này, Tuy nhiên, Ta không có ý cấm đoán, trong thời gian trống Toà, việc trao đổi các ý kiến liên quan đến việc bầu cử.”

(Giaon Phaolô đệ Nhị, “Apostolic Constitution” Universi Dominici Gregis, số 81)

Đó là những gì liên quan đến phần “vạ tuyệt thông.”

Điều này vẫn chưa đủ để gây ra chuyện lớn, mà chính là chuyện này lại liên quan đến một khoản Giáo Luật liên quan đến việc bầu cử.

Ðiều 171: (1) Những người sau đây không có năng cách để bỏ phiếu:

1. người không có khả năng để thực hiện các hành vi nhân linh;

2. người không có quyền bầu;

3. người bị tuyên kết hay tuyên bố hình phạt tuyệt thông hoặc do án văn của tòa án hoặc do nghị định;

4. người nào đã công khai lìa khỏi sự hiệp thông với Giáo Hội.

(2) Nếu ai trong số những người kể trên được thu nhận vào việc bỏ phiếu thì phiếu của người ấy không có giá trị, nhưng sự bầu cử vẫn hữu hiệu, trừ khi người đắc cử không còn hội đủ số phiếu cần thiết sau khi đã loại bỏ các phiếu vô hiệu của những người đã nói.

( Bộ Giáo Luật 1983, điều 171, trích từhttp://www.catholic.org.tw/vntaiwan/giaoluat/luat13.htm )

Như vậy việc bầu đức Phanxicô có “vấn đề,” nếu quả thực bốn vị hồng y nói trên đã thực sự bị vạ tiền kết.

Nhiều người đã lên tiếng phản bác cái gọi là “Team Bergoglio.” Xin đọc bài phản bác của John L. Allen, Jr. tại địa chỉ
Deal with it: Francis is the Pope

Nhiều bài báo đã bàn đến vấn đề này, tại các đường links sau :
Pope Francis, beyond the paradigm of discontinuity (Monday Vatican)
Solving the “Enigma” of Pope Francis (Adam Shaw / FOX)
Author, cardinals spar over reports of conclave campaigning (Catholic News Agency)
La “squadra di Bergoglio” (Libertà e Persona)
Il caso del “Team Bergoglio” (La Stampa)
Ivereigh + Universi dominici gregis 81 = Ein radikales Problem für den Papst(Katholisches)

Nhất là bài phản bác của cha Federico Lombardi, phát ngôn viên của Vatican:
Fr. Lombardi denies Ivereigh’s allegations

Nếu các bác có nhã hứng, có thì giờ, lại muốn theo dõi sát nút những lời nhận định khác nữa về cả hai bên thuận nghịch, xin đọc thêm các bài sau đây từ trang blog có tên là From Rome :

If Ivereigh is to be believed, was Bergoglio’s election invalid? (Nov. 25)
Ivereigh + UDG 81 = A Radical Problem for the Pope (Nov. 27)
Fr. Lombardi denies Ivereigh’s allegations (Dec. 1)
The Chronology of Reports on “Team Bergoglio” (Dec. 2)
Vatican Radio seeks to kill story on “Team Bergoglio” (Dec. 4)
Ivereigh backtracks to protect “Team Bergoglio” from penalties of UDG 81(Dec. 5)
Ivereigh knew of UDG 81 on March 12, 2013 (Dec. 6)
Cardinal Murphy-O’Conner admits Pope Francis recognized his leadership of “Team Bergoglio” (Dec. 6)
4 Ways the “Team Bergoglio” Revelations undo Francis’ papacy (Dec. 7)
Public Questions for the Vatican that need to be Answered (Dec. 8)
The Great Reformer: Francis and the Making of a Radical Pope (Dec. 9)
The Monstrosity of the Allegations against “Team Bergoglio” = Cardinal Bergoglio is not the Pope (Dec. 12)
The Improbity of Team Bergoglio’s Recent Denials (Dec. 13)

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 9)
nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/10/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang.html

Nhà cháu xin tiếp tục trở lại với bài viết của José Villasana Alberto Munguia.

Seguramente Ivereigh no sabía que la Constitución que rige los cónclaves, la Universi Dominici Gregis, establece penas de excomunión latae sententiae (es decir automática, sin necesidad de declaración por parte de nadie) para los cardenales que promuevan votos a favor de algun otro cardenal (Art. 81, 82, 83).

Los responsables de ese cabildeo estuvieron excomulgados de inmediato, ipso facto, yeo ipso, según el derecho canóninico, y dejaron de formar parte de la Iglesia. Más aún, la Constitución señala que también la persona que aceptó ese lobbing quedó excomulgada. Es decir, el mismo Bergoglio habría estado, según el Derecho Pontificio, fuera de la Iglesia al momento de su elección.

Hẳn Ivereigh không biết đến Tông Huấn ấn định việc Mật Nghị. Tông huấn này mang tên Universi Dominici Gregis ấn định hình phạt vạ tuyệt thông tiền kết – latae sententiae – (vạ này tức khắc mắc phải dù không có ai công bố ) cho các hồng y nào vận động bỏ phiếu cho một hồng y nào đó (các số 81, 82, 83 ).

Những ai có trách nhiệm vận động tức khắc bị vạ tuyệt thông, ipso facto, et eo ipso – tức khắc và do chính việc ấy, chiếu theo giáo luật, và đương sự không còn thuộc về Giáo hội nữa. Hơn nữa Tông huấn ấy còn phát biểu rằng người chấp nhận việc vận động ấy cũng bị tuyệt thông. Nghĩa là chính đức Bergoglio, theo luật của Tông huấn ấy, cũng đã ở ngoài Giáo hội vào thời điểm được bầu chọn.

La tercera bomba fue la publicación de dos libros que dan a conocer graves irregularidades que se cometieron en el cónclave que eligió a Francisco. El primero es el libro de Elisabbeta Piqué (biógrafa autorizada de Bergoglio desde Argentina) titulado “Francisco, vida y revolución”. Piqué supo, por el mismo Francisco, lo que sucedió dentro del cónclave. El otro libro es del famoso vaticanólogo Antonio Socci “Non è Francesco” (El Papa no es Francisco).

Quả bom thứ ba là việc phát hành hai cuốn sách nhấn mạnh đến những bất thường nghiêm trọng xảy ra trong cuôc Mật nghị bầu đức Phanxicô. Cuốn sách đầu tiên là cuốn của Elisabbeta Piqué (người viết tiểu sử được chuẩn nhận của Bergoglio từ Achentina) mang tựa đề “Francisco, life and revolution – Phanxicô, cuộc đời và cách mạng”.

Qua chính đức Phanxicô, bà Piqué biết những gì xảy ra trong cuộc Mật nghị.

Cuốn sách kia là cuốn của Antonio Socci, chuyên gia nổi tiếng về Vatican, Sách có đề tựa “Non è Francesco. La Chiesa nella grande tempesta – Không phải là Phanxicô – Giáo hội trong cơn bão dữ”.

Các bác có thể mua cuốn sách tại link này

http://www.amazon.com/Francesco-Chiesa-nella-grande-tempesta/dp/8804646632

Las revelaciones de Piqué son tan consideradas como provenientes de Francisco que el Osservatore Romano, periódico oficial de El Vaticano, publicó el capítulo en que se narra la forma en que se desarrolló el cónclave. También hizo lo mismo Radio y Televisión Vaticana. Y es que Bergoglio, al ser electo Papa, sintió que la amenaza de excomunión -que recae sobre cualquier cardenal por revelar lo sucedido en el cónclave- ya no le afectaba, y le narró a la periodista cómo sucedieron las cosas dentro de la Capilla Sixtina.

Những điều tiết lộ của bà Piqué được tờ báo L’Osservatore Romano, tờ báo chính thức của Toà Thánh Vatican chú ý đến rất nhiều, đến độ đã đăng chương kể về hình thái và cách thức cuộc mật nghị diễn tiến như thế nào. Đài Phát thanh và Truyền hình Vatican cũng làm như vậy. Và rằng đức Bergoglio, sau khi được bầu làm giáo hoàng, cảm thấy rằng nguy cơ vạ tuyệt thông – xảy đến cho những vị hồng y nào tiết lộ những gì xảy ra trong cuộc mật nghị – không còn ảnh hưởng trên ngài nữa, nên ngài mới kể lại cho bà phóng viên những gì xảy ra trong Nguyện đường Sixtina.

La narración: en el cónclave, la tarde del 13 de marzo, en la cuarta votación del día, aparecieron 116 votos, cuando solo había 115 cardenales en el aula. Un cardenal metió una papeleta de más. Esa cuarta votación la ganó el Cardenal Angelo Scola de Milán (la misma Conferencia Episcopal Italiana emitió un boletín felicitando a Scola por haber sido electo Papa).
 La votación se anuló indebidamente. El sitio de Angelo Scola publicó que el recién electo Papa tomó el nombre de Juan XXIV. Lo replicó también Wikipedia. A los pocos minutos ambos sitios quitaron ese resultado.

Câu chuyện là như thế này: trong cuộc mật nghị, chiều ngày 13 tháng Ba, trong vòng bầu phiếu thứ tư trong ngày, có đến 116 phiếu bầu, mặc dù chỉ có 115 vị hồng y trong phòng. Một hồng y đã bầu hơn một phiếu. Trong vòng bầu này, hồng y Angelo Scola , của Milan, trúng cử (Chính vị này được hội đồng Giám Mục Ý gửi ra một thông báo chúc mừng ngài được bầu làm giáo hoàng). Vòng bầu phiếu này bị huỷ bỏ vì được coi là không đúng quy cách. Trang của đức Angelo Scola cho biết rằng vị giáo hoàng tân cử lấy tên là Gioan XXIV. Trang Wikipedia cũng lập lại như vậy. Nhưng chỉ vài phút sau, cả hai trang đều xoá chi tiết này.

Thông báo đính chính của hội đồng giám mục Ý tại đây:

http://www.abc.es/sociedad/20130315/abci-conferencia-episcopal-italiana-scola-201303142030.html

Ahora bien, la Constitución Apostólica Universi Dominici Gregis (Art. 69) establece que cuando hubiera dos papeletas dobladas como proviniendo de un mismo cardenal y tuviesen el mismo nombre o uno estuviese en blanco, se debe contar como un solo voto. Si, en cambio, lleva dos nombres diversos, se anulan ambas papeletas y ninguno de los dos votos es válido. Pero claramente establece: “en ninguno de los dos casos se deberá anular la elección”. En este caso, hubo una papeleta blanca de más. Y no se siguió lo establecido, sino que se anuló la elección, cosa que estaba expresamente prohibido.

Tuy nhiên, Tông huấn Universi Donminici Gregis, số 69, ấn định rằng, khi có hai phiếu xếp chung với nhau. như là của cùng một hồng y, và mang cùng một tên, hay có một phiếu trắng, thì phải tính như là một phiếu mà thôi. Tuy nhiên, nếu [hai phiếu] có hai tên khác nhau, cả hai phiếu đều phại bị loại bỏ, và không một phiếu nào trong hai phiếu đó được coi là hợp lệ. Nhưng tông huấn nói rõ: “Cả hai trường hợp đều không hủy bỏ cuộc bầu”. Như vậy trong trường hợp này, có dư một phiếu trắng. Như vậy là không tuân theo quy luật của Tông huấn. Vòng bầu cử bị hủy bỏ. Đó là điều Tông huấn cấm rõ ràng.

Nhà cháu trích nguyên văn Tông huấn để các bác làm bằng:

“If during the opening of the ballots the Scrutineers should discover two ballots folded in such a way that they appear to have been completed by one elector, if these ballots bear the same name they are counted as one vote; if however they bear two different names, neither vote will be valid; however, in neither of the two cases is the voting session annulled.”

http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/apost_constitutions/documents/hf_jp-ii_apc_22021996_universi-dominici-gregis.html

Contraviniendo las disposiciones de la Constitución, la cuarta votación se declaró nula, obligaron al Cardenal Angelo Scola, recién electo Juan XXIV, a renunciar y regresar a la Capilla Sixtina, y se procedió a una quinta votación, en la que salió electo Jorge Mario Bergoglio.

Esa fue la segunda irregularidad del cónclave, pues la Constitución establece (Art. 63) que solo debe haber cuatro votaciones cada día, dos por la mañana y dos por la tarde.

Ngược lai với ấn định của Tông huấn, vòng đầu phiếu thứ tư bị tuyên bố là vô hiệu, buộc đức hồng y Angelo Scola, là đức Gioan XXIV tân cử, phải từ nhiệm và trở lại Nguyện đường Sixtine, và tiếp tục vòng bầu phiếu thứ năm. Trong vòng bầu này, đức Jorge Mario Bergoglio trúng cử.

Đây là điều bất thường thứ hai trong cuộc mật nghị, theo số 63 củaTông huấn, nói rằng chỉ có bốn vòng bầu mỗi ngày, hai vòng ban sáng , và hai vòng ban chiều.

Đọc thêm bài: “Ecco perché l’elezione di Papa Bergoglio non è valida – Lý do tại sao cuôc bầu cử đức Phanxicô vô hiệu” tại địa chỉ:

http://www.panorama.it/cultura/libri/socci-elezione-papa-bergoglio-non-valida/

Nhà cháu trích nguyên văn Tông huấn:

63. The election is to begin immediately after the provisions of No. 54 of the present Constitution have been duly carried out.

Should the election begin on the afternoon of the first day, only one ballot is to be held; then, on the following days, if no one was elected on the first ballot, two ballots shall be held in the morning and two in the afternoon. The voting is to begin at a time which shall have been determined earlier, either in the preparatory Congregations or during the election period, but in accordance with the procedures laid down in Nos. 64ff of the present Constitution.

http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/apost_constitutions/documents/hf_jp-ii_apc_22021996_universi-dominici-gregis.html

La situación de que la designación de Bergoglio pudiese ser efectivamente inválida resulta clara, según dicen los canonistas, si nos atenemos al artículo 76, el cual afirma que: “Si la elección se llevase a cabo de forma diversa a como está prescrito en la presente Constitución o no se hubieren observado las condiciones establecidas la elección es, por ello mismo, nula e inválida, sin que intervenga ninguna declaración a propósito y, por lo mismo, ésta no confiere ningún derecho a la persona elegida”.

Các chuyên gia giáo luật còn nói rằng tình trạng của đức Bergoglio quả thực có kết quả rõ ràng là vô hiệu, nếu theo sát số 76, ấn định rằng: “Nếu cuộc bầu cử được tổ chức một cách khác với điều đã được ấn định bởi Tông huấn này, hoặc các điều kiện ấn định không được tuân thủ, vì chính lý do đó, cuộc bầu cử là vô kết quả và vô hiệu, mà không cần phải tuyên bố ra, và hậu quả là , cuộc bầu cử không đem lại một quyền gì cho người trúng cử.”

Nguyên văn Tông huấn:

76. Should the election take place in a way other than that prescribed in the present Constitution, or should the conditions laid down here not be observed, the election is for this very reason null and void, without any need for a declaration on the matter; consequently, it confers no right on the one elected.

http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/apost_constitutions/documents/hf_jp-ii_apc_22021996_universi-dominici-gregis.html

Nguồn http://www.sudiepchuaden.com/2015/04/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang.html

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 10)

Es necesario releer el discurso del Papa Benedicto XVI del 27 de febrero de 2013, el día anterior a retirarse y tomar el helicóptero hacia Castel Gandolfo, en el cual dio a conocer los alcances de su renuncia. En ella declaró: “La gravedad de la decisión ha sido propiamente el hecho de que desde aquel momento (el de su elección como Papa, en 2005) estuve comprometido para siempre con el Señor”. Es decir, Benedicto tenía claro que no podía renunciar a su vocación como Vicario de Cristo (un cargo espiritual que es ad vitam), y solo renunciaba a los cargos administrativos del papado.
Cần phải đọc lại bài diễn văn ngày 27 tháng Hai năm 2013 của đức giáo hoàng Biển Đức XVI, hôm trước ngày ngài nghĩ hưu và lên trực thăng bay về Castel Gandolfo. Bài diễn văn này nói lên tầm mức việc từ nhiệm của ngài. Bài diễn văn nói rõ: “Mức độ nghiêm trọng của quyết định này nằm ở sự thể là, ngay vào thời điểm ấy (lúc ngài được bầu lên làm giáo hoàng vào năm 2005), ngài đã dấn thân cho Chúa vĩnh viễn.” Nghĩa là, đức Biển Đức biết rõ rằng, ngài không thể thoái lui khỏi ơn gọi làm Người Đại Diện Chúa Kytô ( một vai trò thiêng liêng ad vitam – trọn đời), mà chỉ từ nhiệm các công việc hành chính của ngôi giáo hoàng.
Este cúmulo de evidencias llevó al Cardenal George Pell a declarar que Francisco bien podría ser el 38 antipapa en la historia de la Iglesia, y no el Papa 266, como la inmensa mayoría cree.
Toàn bộ chứng cớ này khiến cho hồng y Cardinal George Pell tuyên bố rằng đức Phanxicô có thể sẽ là vị phản giáo hoàng thứ 38 trong lịch sử Giáo hội, chứ không phải vị giáo hoàng thứ 266 như nhiều người tưởng.
Nhà cháu xin trích dẫn:
Mời đọc chi tiết này tại trang sau đây
Bài viết ngày 11 tháng Ba năm 2014
Pero este fin de semana se produjo una situación que deja al descubierto ya toda una tendencia “anti Francisco” y que es puesta en el tapete por la prensa australiana y británica. Se trata de la homilía del cardenal de Australia, George Pell, escrita en latín y que él no pudo leer “por razones de salud”, pero que fue expuesta en la principal misa de esa nación por otro sacerdote en su nombre.
Pell fue lapidario: dio a entender que el argentino puede ser el falso papa número 38 y no el verdadero número 266 de la Iglesia. Y dio indicios de cisma: “En los próximos 12 meses tendremos la tarea de explicar la necesidad de la conversión, la naturaleza de la misa y la pureza de corazón de las escrituras para recibir la Sagrada Comunión”.(…)
Pell acusó a Bergoglio de “acumular cardenales” para ganar posiciones en el Sínodo de la Familia y consideró que “ese tipo de cosas deben realizarse por consenso”.
Nhưng trong tuần này, xuất hiện một tình hình cho thấy có một chiều hướng “chống Phanxicô” đã được đưa ra do báo chí Úc và Anh. Đó là một bài giảng của hồng y George Pell, viết bằng tiếng Latinh, mà ngài không thể đọc “vì lý do sức khoẻ,” nhưng đã được trình bày trong thánh lễ chính của quốc gia do một inh mục khác, nhân danh ngài.
Đức hồng y Pell nói rất thẳng thừng: ngụ ý rằng người Achentina này có thể sẽ là vị ngụy giáo hoàng thứ 38, chứ không phải số 266 thật của Giáo hội. Và ngài xa gần nói đến ly giáo: “Trong vòng 12 tháng tới, chúng ta phải có nhiệm vụ giải thích về sự cần thiết của việc hoán cải, về bản chất của Thánh Lễ, và sự cần thiết của tình trạng tinh sạch trong tâm hồn theo Kinh Thánh để được lên Rước Lễ.(…)
Hồng Y Pell còn lên án đức Bergoglio đã “gian lận bố trí trước các hồng y” để thắng thế trong Thượng Hội Đồng về Gia Đình, và ngài tin rằng”chuyệnđó phải có âm mưu thoả thuận trước.”
[Hết trích dẫn]
El hecho de que Benedicto XVI pudiera seguir siendo el Vicario de Cristo explicaría porqué éste se ha distanciado de las ideas proclamadas por el nuevo obispo de Roma, que a sí mismo se hace llamar padre Bergoglio, quien ha declarado que “todas las religiones son iguales“, ó que “Dios no es católico” ó que “da igual si un niño es educado por un judío, o un musulmán o un cristiano”. En su discurso para la Universidad Urbaniana, el 22 de octubre de 2014, Benedicto XVI refutó esas tesis de Francisco, derivadas de un falso diálogo interreligioso, y marcó su discrepancia doctrinal respecto a las mismas. Por el contrario, Benedicto XVI reafirmó que Jesucristo es el camino para llegar al Padre; recordó que la Iglesia -y su único Dios- es católica desde el inicio, pues ofrece la salvación a todos; y que el cristiano tiene el mandato de proclamar la fe en Cristo hasta los confines de la Tierra.
Sự kiện đức Biển Đức XVI có thể vẫn còn là Vị Đại Diện Chúa Kytô, có thể giải thích tại sao ngài giữ mình tránh xa các tư tưởng mà người tự gọi mình là tân Giám mục Roma, chính người mang tên là Cha Bergoglio, đã tuyên bố rằng “mọi tôn giáo đều bằng nhau” hay “Thiên Chúa không phải Công giáo” hay “bất kể đứa trẻ được một người Do thái, hay Hồi giáo hay một Kytô hữu giáo dục.” Trong bài diễn văn ngày 22 tháng Mười năm 2014, tại đại học Urbanianô, đức Biển Đức XVI đã phản bác các lập luận của đức Phanxicô, từng tuyên bố trong một cuộc đối thoại giả hiệu về liên tôn, đồng thời ngài nhấn mạnh đến sự bất đồng ý kiến về cùng vấn đề. Khác với đức Phanxicô, đức Biển đức XVI tái khẳng định rằng Chúa Giêsu Kytô là con đường dẫn đến Chúa Cha. Ngài nhắc lại rằng Giáo Hội – và vị Thiên Chúa duy nhất của Giáo hội- đã là Công giáo ngay từ khởi thủy, đem ơn cứu rỗi cho toàn thể mọi người; và rằng mọi Kytôi hữu phải có bổn phận rao giảng niềm tin vào Chúa Kytô cho đến tận cùng trái đất.
Nhà cháu ghi chú thêm như sau:
Về cây này của tác giả “todas las religiones son iguales
Về câu nói: “God is not Catholic – Thiên Chúa không Công giáo” xin xem thêm chi tiết tại:
[Hết trích dẫn]
El afán de igualar y unir a las religiones en bien de una “paz común” es una herejía del Siglo XVI conocida como “Irenismo”. Esa ideología proponía una religiosidad ajena a la identidad específica de cada religión, una “unidad” de creencias para evitar las “guerras de religión”.
El término viene de la propuesta de Erasmo de querer conciliar el catolicismo y el protestantismo, pero más recientemente ha servido para impulsar la idea de lograr una unificación religiosa universal, presuntamente en pro de la paz que supere las diferencias que provocan entre sí las distintas religiones.
Lòng ao ước gặp gỡ và hiệp nhất các tôn giáo trong “một nền hoà bình chung” là một lạc giáo của thế kỷ 16, mang tên là “ Irenecism – thuyết thoả hiệp tôn giáo dựa trên lý trí.” Ý thức hệ này đề nghị một tôn giáo nằm ngoài các căn tính chuyên biệt của bất cứ một tôn giáo riêng biệt nào. Đây là một “đơn vị tín ngưỡng, nhằm ngăn ngừa các cuộc chiến tranh tôn giáo.
Từ irenecism xuất phát từ đề nghị của Erasmus, muốn dung hoà Tin Lành và Công giáo. Nhưng mới đây nó được dùng để thúc đẩy ý tưởng thực hiện một sự hiệp nhất các tôn giáo toàn cầu, theo dự tính là trong hoà bình, để vượt lên trên các dị biệt gây ra khoảng cách giữa các tôn giáo khác nhau.
El Irenismo se desarrolla en la simulación, la concesión de lo propio y en el no querer manifestar que existe una verdad absoluta y una religión verdadera.
 El Concilio Vaticano II condenó el Irenismo en el número 11 del Decreto Unitatis Redintegratiodiciendo que “no hay nada tan ajeno al ecumenismo como ese falso Irenismo que daña la pureza de la doctrina católica y oscurece su sentido genuino y cierto”.
Lo que hizo Benedicto XVI, con el discurso a la Universidad Urbaniana, es ratificar la doctrina del Concilio y distanciarse de la herejía irenista profesada por Bergoglio.
Chủ ttương thoả hiệp tôn giáo này phát triển trong việc mô phỏng , việc nhịn nhường chính mình đi và nỗi ao ước không muốn nói rằng có một chân lý tuyệt đối và một tôn giáo chân thực. Công đồng chung Vaticanô đệ Nhị đã lên án thuyết chủ hoà này trong số 11 của Sắc Lệnh về Hiệp Nhất, “Unitatis Redintegratio,” nói rằng : “Không gì phá hoại hiệp nhất cho bằng chủ trương xu thời sai lệch 28*, nó làm tổn thương giáo lý công giáo thuần túy và làm lu mờ ý nghĩa đích thực và chắc chắn của những giáo lý này.”
28* Danh từ “xu thời” (irenismus) phát xuất từ tiếng hy lạp “eirene” có nghĩa “chủ hòa”. Trong những tương giao với người không công giáo phải nhằm sự hòa hợp với nhau. Tuy nhiên nếu chúng ta che giấu một chân lý Công Giáo nào đó hoặc thay đổi ý nghĩa đích thực của một học thuyết Công Giáo cốt cho người không công giáo dễ chấp nhận hơn, quả thực đó là một phương thế giả tạo để đạt tới sự hòa hợp vừa nói. Ðó cũng chính là chủ trương xu thời sai lệch bị Sắc Lệnh này ngăn cấm
Điều đức Biển Đức phát biểu tại đại học Urbaniano, chuẩn nhận giáo huấn của Công đồng, và ngài đứng tách biệt xa khỏi lạc giáo chủ hoà xu thời mà đức Bergoglio tuyên xưng.
El Irenismo, llevó a Francisco a caer en una herejía formal, por cuanto se trata de un documento pontificio. Dice así en el número 247 de su Exhortación Evangelii Gaudium: “Una mirada especial se dirige al pueblo judío cuya Alianza con Dios jamás ha sido revocada”. Ese texto se opone directamente a la definición dogmática solemne establecida por el Concilio Ecuménico de Florencia, y ratificada por el Papa Eugenio III, enseñada por el magisterio supremo del Papa Benedicto XIV y sostenida por el Magisterio de la Iglesia hasta nuestros días. Dios sí revocó la alianza mosaica a los judíos, por haber dado muerte al Mesías.
Thuyết chủ hoà này, dẫn đức Phanxicô rơi vào một lạc giáo chính thức, vì đây là một tài liệu của đức giáo hoàng. Số 247 của Tông huấn Evangelii Gaudium, nói: “Một cái nhìn đặc biệt nhắm vào người Do thái, mà giao ước với Thiên Chúa không bao giờ bị thu hồi”. Bản văn này trực tiếp nghịch với với định tín đã được Công đồng chung tại Florence long trọng tuyên bố, và được đức giáo hoàng Eugeniô đệ Tam chuẩn nhận, được huấn quyền tối thượng của đức giáo hoàng Biển Đức XVI dạy, và được Huấn quyền của Giáo hội gìn giữ cho đến nay. Thiên Chúa đã thu hồi giao ước Mosê với người Do thái vì đã giết Đấng Thiên Sai.

Nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/10/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang_13.html#sthash.oXIu3W9l.dpuf

Tản mạn chuyện hay về Đức Giáo Hoàng (Phần 11 – phần cuối)

El mismo Jesucristo sentenció a los judíos, por rechazar al Mesías que les fue enviado:“Se os quitará a vosotros el Reino de Dios y se le dará a un pueblo que produzca sus frutos” (Mt 21, 33-46). Y cuando celebró la Pascua con sus discípulos, antes de ser asesinado en la Cruz por los judíos, dijo a sus discípulos: “Este es el caliz de mi sangre, sangre de la Nueva Alianza que será derramada por muchos”. Es decir, la alianza que el Padre sella con la sangre de su propio Hijo es eterna, es definitiva ysuple totalmente a la antigua alianza; aquella fue superada, y dejó de ser vigente y necesaria, gracias a la muerte y resurrección de Cristo.
Chính Chúa Giêsu đã lên án người Do thái, vì họ đã khước từ ĐấngThiên Sai đã được sai đến với họ: “Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. “(Mt 21, 33-46). Và khi ngài cử hành lễ Vượt Qua với các môn đệ mình, trước khi bị chết trên Thánh Giá vì người Do Thái, ngài đã nói với các môn đệ: “Đây là chén Máu Thầy, máu Giao Ước mới, đổ ra vì nhiều người.” Nghĩa là giao ước Chúa Cha đã đóng ấn bằng Máu của Con Ngài, là giao ước vĩnh viễn, chung cuộc và thay thế trọn vẹn giao ước cũ. Nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Kytô, giao ước cũ đã bị vượt qua, không còn hiệu lực và cần thiết nữa.
(Nhà cháu mở ngoặc ở đây để mời các bác đọc thêm ý kiến ngược lại của hồng y Avery Dulles, về vấn đề Thiên Chúa có huỷ bỏ giao ước cũ với người Do thái hay không, trong bài The Covenant With Israel’, trong số báo “First Things,” tờ báo thần học miền bắc Mỹ, ra vào tháng Mười Một, năm 2005, tại trang này:
Según la doctrina de San Roberto Belarmino, San Francisco de Sales (Doctor de la Iglesia), y la que han sostenido los Papas a partir de Paulo IV, cuando un Papa cae en herejía, automáticamente deja de ser Papa y está fuera de la Iglesia, al proclamar tesis que son contrarias a la fe. Varios expertos dicen que Bergoglio nunca lo fue.
Interesante será ver lo que sucede en la visita de Francisco a los EE.UU., pues si bien en Roma logrado silenciar a los obispos fieles a la doctrina católica en el pasado sínodo, filtrando sus positio, en norteamérica existen muchos católicos, obispos, sacerdotes y laicos, que intentarán denunciar las herejías que se intentarán introducir en el sínodo de octubre próximo.
Theo giáo lý của thánh Robert Bellamine, thánh Phanxicô de Sales ( tiến sĩ Hội Thánh), và theo giáo lý của các giáo hoàng kể từ đức Phalô đệ Tứ, khi một vị giáo hoàng rơi vào lạc giáo, vị ấy lập tức không còn là giáo hoàng, và đã ở ngoài Giáo hội vì tuyên bố những điều ngược với đức tin. Nhiều chuyên gia cho rằng đức Bergoglio chưa bao giờ là giáo hoàng.
Cũng là điều thú vị khi thấy những gì sẽ xảy ra khi đức Phanxicô đi thăm nước Mỹ, vì mặc dầu Roma đã tìm cách làm im miệng các vị giám mục trung thành với giáo lý Công giáo trong kỳ họp Thượng hội đồng vừa qua, lọc lựa quan điểm của họ, nhưng tại Bắc Mỹ, nhiều tín hữu Công giáo, giám mục, linh mục và giáo dân đã cố gắng chỉ ra những lạc giáo mà Thượng hội đồng nhắm đến vào tháng Mười sắp tới.
Así describieron algunos santos y místicos el cisma que sacudirá a la Iglesia, y que podría tener mucho que ver con la herejía papal que estamos presenciando:
• San Francisco de Asís: “Habrá un Papa electo no canónicamente que causará un gran cisma en la Iglesia”.
• Beata Ana Catalina Emmerick (religiosa agustina): “Vi una fuerte oposición entre dos Papas, y vi cuan funestas serán las consecuencias de la falsa iglesia (…) Esto causará el cisma más grande que se haya visto en la historia”.
• Sor Lucía de Fátima: “Habrá cardenales contra cardenales, obispos contra obispos; satanás marchará en medio de ellos”.
Hay que estar atentos a lo que sucederá en la tercera y cuarta luna de sangre. Y hay que rezar mucho por la Iglesia, la cual se encuentra en medio de una acre tempestad.
Vài vị thánh và đôi nhà thần bí đã từng miêu tả cái ly giáo làm rúng động Giáo hội, và có thể liên quan đến cái lạc giáo của đức giáo hoàng mà chúng ta đang chứng kiến:
• Thánh Phancicô thành Assisi: “Sẽ có giáo hoàng được bầu lên không theo đúng giáo luật gây ra một đại ly giáo trong Giáo Hội”.
• Chân Phước Anne Catherine Emmerich (nữ tu dòng thánh Augustinô ): “Tôi thấy một đối nghịch nghiêm trọng giữa hai giáo hoàng, và tôi thấy những hậu quả tàn khốc như thế nào do giáo hội giả hiệu gây ra ( … ) Việc này tạo ra một ly giáo lớn nhất chưa từng thấy trong lịch sử “.
• Sơ Lucia ở Fatima: “Hồng y chống lại hồng y, giám mục chống lại giám mục. Và Satan đi lộng hành giữa họ.”
Chúng ta nên chú ý đến những gì xảy ra trong kỳ Trăng đỏ như Máu thứ ba và thứ tư này. Và chúng ta phải cầu nguyện cho giáo hội, đang ở giữa một cơn bão khốc liệt.
***
Bài viết của José Villasana Alberto Munguia chấm dứt ở đây.
Trên mạng, các bác có thể tìm thấy nhiều bài viết tương tự, có khi còn gay gắt hơn. Nhưng những luận đề ông đưa ra, dĩ nhiên, chúng ta còn phải bàn cãi.
Sự thể có quả đúng như thế hay không, còn tuỳ mức khả tín của các cuốn sách được bài báo nêu lên.
Có điều bà Elisabbeta Piqué là bạn và là người viết tiểu sử của đức Phanxicô. Những điều bà viết ra hẳn do đức Phanxicô cho biết.
Còn Austen Ivereigh đã từng làm việc cho hồng y Cormac Murphy-O’Connor, cựu Tổng giám mục Westminster.
Ngay lập tức đã có ý kiến phủ nhận những chi tiết cuốn sách tiết lộ.
Văn phòng thư ký của hồng y Murphy-O’Connor đã viết một bức thư cho báo giới Anh, chối rằng không hề có một tiến trình nào tìm kiếm sự đồng thuận của đức Bergoglio.
Và vào ngày thứ Hai mồng Một tháng Mười Hai. cha Federico Lombardi, phát ngôn viên của Vatican, đã ra một thông báo nói rằng “all four cardinals have expressly denied this description of events, both in terms of the demand for a prior consent by Cardinal Bergoglio and with regard to the conduct of a campaign for his election. – cả bốn hồng y được nêu tên đã minh nhiên phủ nhận lối trình bày các sự kiện như thế, cả trong việc hỏi ý đồng thuận của hồng y Bergoglio và việc thực hiện một chiến dịch vận động bầu cho ngài”
Theo sau phát biểu của cha Lombardi, Ivereigh viết trên Twitter rằng ông “xin lỗi về các hậu quả đã có về “một” thoả thuận tiền bầu cử nhằm bầu đức Bergoglio lên – sorry for implication that there was” a “pre-conclave agreement to elect Bergoglio.”
Nhưng ông viết thêm: “Các vị [hồng y] ấy không hề chính thức tìm sự đồng thuận của ngài, như đầu trang 355 đã gợi ý. Nhưng lần này các vị ấy biết chắc ngài không chống lại việc bầu ngài … Ngoài ra, câu chuyện kể lại là chính xác.”
Nghe người nói đi, rồi người nói lại, nhà cháu và các bác nghe thế thì biết thế.
Nhưng có người không đồng ý với những lời biện hộ ấy .

Nguồn: http://www.sudiepchuaden.com/2015/12/tan-man-chuyen-hay-ve-uc-giao-hoang.html#sthash.HbbSX8Yh.dpuf